CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHIA SẺ TRI THỨC CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 1. Các nghiên cứu về chia sẻ tri thức Tri thức (Knowledge) ngày càng được công nhận là một tài sản quý giá của một tổ chức (Zahari và cộng sự, 2014). Đây được xác định là một lợi thế cạnh tranh (Ngah và Ibrahim, 2010), năng lực cốt lõi và là công cụ hữu hiệu cho năng suất vượt trôi (Lin, 2007) và mang ý nghĩa quan trọng, bền vững đối với thành công của các tổ chức, chính phủ hay các tổ chức tư nhân (Elogie, 2010). Nonaka và Peltokor (2006) đưa ra định nghĩa về dữ liệu có thể được phân loại dưới dạng số, hình ảnh, âm thanh bắt nguồn từ quan sát hoặc đo lương.
Thông tin đại diễn cho dữ liệu được sắp xếp theo mẫu có ý nghĩa. Tri thức khác với thông tin ở niềm tin, cam kết, quan điểm, ý định và hành động. Quan điểm của Von (1989) cho răng tri thức có thể được xây dựng thông qua kinh nghiệm và tương tác với những người khác. Việc nghiên cứu tri thức trong các tổ chức bao gồm các nghiên cứu về bản chất của tri thức và quá trình chia sẻ tri thức (Ipe, 2003).
Tri thức được định nghĩa là “sự kết hợp linh hoạt của kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo ngữ cảnh và hiểu biết chuyên sâu” (Davenport và Prusak, 1998). Chia sẻ kiến thức là quá trình trao đổi kiến thức lẫn nhau và cùng nhau tạo ra kiến thức mới (van den Hooff và de Ridder, 2004); nó ngụ ý sự hợp tác hiệp lực của những cá nhân cùng làm việc hướng tới một mục tiêu chung (Boland & Tenkasi, 1995). Tri thức là một nguồn lực quan trọng của tổ chức. Chia sẻ tri thức góp phần vào phát triển lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức, thông qua việc nâng cao vốn tri thức, bằng cách khuyến khích trao đổi và sáng tạo tri thức trong một tổ chức (Phung, 2019).
Điều này là do tri thức là yếu tố then chốt để đạt được sự đổi mới liên tục ở cả cấp độ cá nhân và tổ chức. Nó là cũng được xem xét như một yếu tố liên quan chặt chẽ đến sự tiến bộ của bất kỳ cá nhân 9 hoặc tổ chức nào. Do đó, chia sẻ tri thức là một vấn đề thiết yếu cần được nghiên cứu và đánh giá. Chia sẻ tri thức (Knowledge Sharing) được định nghĩa là việc “cung cấp thông tin nhiệm vụ và bí quyết để giúp đỡ người khác và cộng tác với người khác để giải quyết các vấn đề, phát triển các ý tưởng mới, hoặc thực hiện các chính sách hoặc thủ tục” (Wang, Noe, 2010).
Chia sẻ tri thức cũng có thể được định nghĩa là luồng thông tin giữa các cá nhân, cung cấp, tìm kiếm và nhận kiến thức từ những người khác và tích hợp kiến thức đó vào bộ kiến thức của riêng họ (Cabrera và cộng sự, 2006). Lee (2001) cho rằng chia sẻ kiến thức là quá trình truyền hoặc phổ biến kiến thức từ người, nhóm hoặc tổ chức này sang người khác. Chia sẻ tri thức được định nghĩa là các cách thức giúp đỡ cộng đồng những người làm việc cùng nhau, tạo điều kiện trao đổi kiến thức giữa mọi người, giúp định hướng học tập, nâng cao khả năng đạt được các mục tiêu của cá nhân và tổ chức (Dyer, Nobeoka, 2000). Chia sẻ tri thức đề cập đến sự trao đổi kiến thức có đi có lại giữa ít nhất hai bên, cho phép định hình và hình thành kiến thức trong bối cảnh mới (Willem, 2003).
Chia sẻ tri thức có thể được định nghĩa là một văn hóa tương tác xã hội, liên quan đến việc trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng của nhân viên thông qua toàn bộ bộ phận hoặc tổ chức. Chia sẻ tri thức là một phần cơ bản của quản lý tri thức vì nó cho phép tri thức có thể truy cập và sử dụng trong các tổ chức (Noor và cộng sự, 2014). Các cơ sở giáo dục tạo ra tri thức hoạt động theo cách tương tự như tri thức của các doanh nghiệp, bao gồm cả tri thức hoạt động được tạo ra thông qua quá trình dạy và học (Chen, Lin, 2009). Hoạt động chia sẻ chia sẻ tri thức đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới kết quả học tập của học sinh, sinh viên.
Đây là bước khởi tạo điều kiện học tập và ứng dụng kiến thức mới (Paulin, Suneson, 2012). Kết quả học tập và 10 chia sẻ tri thức được nhiều nghiên cứu đánh giá có mối quan hệ tích cực (Du, Wagner, 2007; Gomez và cộng sự, 2010; Lui và cộng sự, 2006). Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự thích thú đối với quá trình học tập được tăng lên và hài lòng hơn với quá trình học tập, được chứng minh là có tác động tích cực đến quá trình học tập của người học (Gomez và cộng sự, 2010; Lui và cộng sự, 2006; Zhu, 2012). Chia sẻ tri thức trong các tổ chức giúp cải thiện hiệu suất của tổ chức (Lesser và Storck, 2001), thúc đẩy lợi thế cạnh tranh (Argote và Ingram, 2000), tổ chức học tập (Argote, 1999), và đổi mới (Powell và cộng sự, 1996).
Lợi thế cạnh tranh của các tổ chức ngày càng phụ thuộc vào việc quản lý tri thức hiệu quả và việc học tập của tổ chức (Riege, 2005). Việc triển khai thành công hệ thống quản lý tri thức phụ thuộc vào hành vi của nhân viên (Park, Ribiere, & Schulte, 2004) đặc biệt là về chia sẻ tri thức giữa các nhân viên. Vai trò của giảng viên bao gồm giảng dạy, nghiên cứu, tư vấn. Bên cạnh đó, thông qua các bài giảng, các giảng viên thể hiện vai trò của người phổ biến kiến thức cho sinh viên của mình.
Giảng viên là những nhà sản xuất tri thức và chia sẻ kiến thức cho sinh viên, giúp phát triển giáo dục và cải thiện hiệu suất của tổ chức. Nếu thiếu đi sự chia sẻ kiến thức giữa các giảng viên sẽ dẫn tới việc hạn chế trong sử dụng các nguồn lực, đồng thời thu hẹp các cơ hội học tập của các sinh viên và các giảng viên (Jolaee và cộng sự, 2014). Các nghiên cứu về quản lý tri thức Quản lý tri thức (Knowledge management) được định nghĩa là khả năng của tổ chức trong việc tận dụng các tài sản tri thức của mình để nâng cao sức cạnh tranh của tổ chức (Wiig, 1997). Gold và cộng sự (2001) đã phát triển định nghĩa tổ chức của quản lý tri thức bằng cách chỉ ra tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật, văn hóa và sự hỗ trợ quản lý tri thức trong cơ quan.
Cơ sở hạ tầng công nghệ như hệ thống kinh doanh thông minh, cơ cấu tổ chức, các yếu tố văn hóa như văn hóa chia sẻ đều góp phần vào sự phát triển của 11 quản lý tri thức (Gold và cộng sự, 2001). Quản lý tri thức hiện đại được bắt nguồn từ nghiên cứu của Nonaka và Takeuchi (2006). Trong đó, quản lý tri thức được định nghĩa dựa trên vòng xoáy sáng tạo tri thức, trong đó các dạng tri thức khác nhau được kết hợp, xã hội hóa, nội bộ bóa, chuyên môn hóa để chuyển đổi kiến thức và cho phép mọi người sử dụng kiến thức (Nonaka, 2006). Các dạng kiến thức được xác định bao gồm kiến thức ngầm (kiến thức bất thành văn, thậm chí có thể không được công nhận bởi người nắm giữ kiến thức và có thể được truyền từ người này sang người khác) và kiến thức rõ ràng (kiến thức thức được viết ra và chia sẻ chính thức giữa mọi người) (Nonaka, Takeuchi, 1995).
Paulin và Suneson (2012) chỉ ra rằng quản lý tri thức là một quá trình giữa các cá nhân bao gồm tạo ra kiến thức, chuyển giao kiến thức, chia sẻ kiến thức và rào cản kiến thức. Có nhiều nghiên cứu chỉ ra các cách phân chia khác nhau của quá trình quản lý tri thức. Quá trình quản lý tri thức có thể chia thành hai quy trình: áp dụng quản lý tri thức và quản lý tri thức phát triển (Wiig, 2012; Wong và Aspinwall, 2005). Một số nghiên cứu khác chia quản lý tri thức thành 5 giai đoạn: (i) tạo ra tri thức, (ii) chuyển giao tri thức, (iii) lưu trữ tri thức, (iv) chia sẻ tri thức và (v) ứng dụng tri thức (Nikabadi, 2014; North và Kumta, 2018).
Năm giai đoạn của quản lý tri thức này đưa ra yêu cầu các cá nhân thường xuyên đóng góp và chia sẻ kiến thức, thay vì giữ riêng kiến thức cho mình. Cần chia sẻ tri thức cho người khác thông qua trò chuyện hoặc trao đổi cá nhân bằng văn bản. Quản lý tri thức có thể kết hợp với công nghệ thông tin để việc chia sẻ dữ liệu, kiến thức được diễn ra một cách hiệu quả và nhanh chóng hơn (Tseng, 2008). Việc quản lý tri thức như một quy trình kinh doanh mà thông qua đó doanh nghiệp tạo ra và sử dụng kiến thức (Sarvary, 1999; Demhest, 1997).
Trong bối cảnh hiện nay, các phương pháp cải thiện hệ thống quản lý tri thức, tạo ra các hệ thống chia sẻ và tích hợp giúp góp phần cải thiện hiệu 12 quả hoạt động của các tổ chức (Abubakar và cộng sự, 2019; Del và Della, 2016). Đổi mới kỹ thuật số trong hệ thống quản lý trí thức giúp thúc đẩy các mô hình kinh doanh thông qua việc tối ưu hóa kiến thức mới (Di và cộng sự, 2021). Sử dụng các công cụ kỹ thuật số trong quản lý tri thức giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh và đổi mới mô hình hoạt động, do đó cần phải tạo ra nhiều kiến thức mới và áp dụng nhiều công nghệ trong việc quản lý, chia sẻ tri thức, giúp hỗ trợ tăng trưởng toàn cầu và toàn diện (Di và cộng sự, 2021). Quản lý tri thức hiệu quả đã mang tới lợi thế cạnh tranh cho nhiều cơ quan như Xerox, IBM, Microsoft, Shell, Mitsubishi…(Okeyere và cộng sự, 2010).
Để thúc đẩy và cho phép chia sẻ kiến thức, các nhà quản lý cần hiểu động cơ thúc đẩy cá nhân chia sẻ tri thức (Liang và cộng sự, 2008). Các nghiên cứu về động lực chia sẻ tri thức Động lực của chia sẻ tri thức xuất phát từ việc các cá nhân có các lĩnh vực kiến thức và chuyên môn khác nhau, do đó việc chia sẻ kiến thức giúp cải thiện hiệu suất tổng thể (Haas, Hansen, 2007). Chia sẻ tri thức không được coi là một quá trình thống nhất vì sự khác biệt giữa các cá nhân, các mối quan hệ và sự khác biệt về các loại tri thức (Haas, Hansen, 2007). Chia sẻ tri thức cũng rất thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố cá nhân như bối cảnh tổ chức, đặc điểm giữa các cá nhân và nhóm, đặc điểm văn hóa, đặc điểm cá nhân, các yếu tố động lực, nhận thức (Wang, Noe, 2007).