CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DONG LUC LAM VIỆC CUA NGƯỜI LAO DONG 1.1 Tông quan nghiên cứu về động lực làm việc của người lao động 1.1 Tổng quan tài liệu quốc tế Nghiên cứu của Kovach (1987) với đề tài:“Động lực làm việc của người lao động: Những điều nhân viên và người giám sát cần”. Thông qua khảo sát hơn một nghìn nhân viên và người giám sát, nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên làm việc trong các ngành công nghiệp khác nhau tại Hoa Kỳ. Kết quả nghiên cứu cho thấy mười yếu tố tạo động lực cho nhân viên gồm: (1) Công việc thú vị, (2) Công nhận thành tích, (3) Cảm nhận vai trò cá nhân, (4) Sự đảm bảo trong công việc, (5)Lương cao, (6) Cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp, (7) Điều kiện làm việc tốt, (8) Sự gắn bó của cấp trên với nhân viên, (9) Phê bình kỷ luật khéo léo, (10) Sự giúp đỡ của cấp trên để giải quyết những vân dé cá nhân. Brooks (2007) đã tiến hành nghiên cứu bằng cách phỏng vấn thông qua bang câu hỏi gồm 53 biến quan sát đối với 181 người làm các công việc khác nhau trên nước Mỹ.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc kết hợp giữa hai yếu tô thiết lập mục tiêu va sự hai lòng trong công việc là cách tốt nhất dự đoán động lực làm việc của nhân viên; các yếu tổ ảnh hưởng mạnh mẽ đến hài lòng của nhân viên bao gồm: đánh giá hiệu qua công việc, đào tao, cap trên, đóng góp vào tô chức. Lachheb và cộng sự (2019) cho rằng các yếu té tạo động lực trong công việc có tác động đến mức độ thỏa mãn của người lao động bao gồm lương, phần thưởng và các lợi ích khác. Akhtar và cộng sự (2014) chỉ ra rằng phần thưởng tài chính; đặc điểm cá nhân; kế hoạch trả lương cao; thiết kế công việc và sự giám sát có ảnh hưởng trực tiếp đến động lực của người lao động. Động lực của người lao động bị ảnh hưởng bởi năm yếu tố, bao gồm thu nhập và lợi ích, sự an toàn, điều kiện làm việc, mỗi trường và các đãi ngộ khác (Islam và cộng sự, 2015).
Ngoài ra, Sandhe và Joshi (2017) đã tìm ra 5 yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên. Trong sô này, tiêm năng phát triên và được thừa nhận là thành phần quan trọng nhất, tiếp theo là các yếu tổ thu nhập, đặc quyền và mối quan hệ với cấp trên. Ngoài ra, Moodley, Hove và Karodia (2018) chỉ ra răng yếu tố thu nhập có ảnh hưởng thúc đây lớn nhất, nhưng các yếu tổ tự chủ và trách nhiệm có tác động ít hơn và thành phần "được công nhận" có tác động lớn nhất khi nói đến các biến tác động đến động lực.2 Tổng quan tài liệu trong nước Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường, Phạm Văn Tác, Bùi Thị Thu Hà (2015) cũng đã chỉ ra có yêu tổ gồm: công việc, công nhận thành tích, phát triển nghề nghiệp, thành đạt, quan hệ trong công việc, chế độ chính sách, quản lý và điều kiện làm việc có ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên. Kết quả nghiên cứu chi ra yếu tố tác động mạnh nhất là yếu tố công việc, sau đó là phát triển nghề nghiệp và thấp nhất là thành đạt và điều kiện làm việc.
Phạm Quốc Khánh, Phạm Hồng Vân (2018) liệt kê bảy yếu tố thúc day động lực làm việc của người lao động bao gồm: đặc điểm công việc, nhu cầu cá nhân, môi trường làm việc, tương tác giữa các cá nhân, hệ thống khen thưởng, khả năng phát triển thông qua dao tao và thăng tiễn, va khang định bản thân. Bên cạnh đó, Tăng Đình Sơn (2019) cũng cho thấy các yếu tố bao gồm: chính sách trả lương và thưởng, đặc điểm công việc, môi trường làm việc, đánh giá hiệu suất, đào tạo và các hoạt động tinh thần có tác động đến động lực làm việc của nhân viên. Một nghiên cứu của Hà Nam Khánh Giao, Lâm Thị Thu Huyền & Phạm Hữu Hà (2020) đã chỉ ra 4 yếu tố có tác động dương đến động lực làm việc theo thứ tự giảm dần lần lượt là: Phong cách lãnh đạo, Bản chất công việc, Môi trường làm việc và Đánh giá khen thưởng. Nghiên cứu của Dé Thị Kim Quyên (2021) tại công ty Cô phần Phương Minh đã chỉ ra 5 yếu tố có tác động đến động lực làm việc của nhân viên đó là điều kiện làm việc, đặc điểm công việc, lương thưởng và phúc lợi, quan hệ với đồng nghiệp và cấp trên và cuôi cùng đó là dao tạo va thăng tiên.
Nghiên cứu của Huỳnh Thanh Tú, Ung Hoàng Khang (2020) đã xác định được 07 yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Betrimex, đó là: tiền lương, tiền thưởng, chế độ phúc lợi, phụ cấp, điều kiện làm việc, mối quan hệ với đồng nghiệp và mối quan hệ với cấp trên. Kết quả nghiên cứu chỉ ra răng, tiền lương, tiền thưởng là các yếu tố tác động mạnh nhất đến động lực làm việc của nhân viên. Sự công nhận không có tác động đên động lực làm việc của nhân viên. Đoàn Việt Dũng và Đào Quyết Thắng (2019) với nghiên cứu “Các yếu tổ ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động trong tổ chức: Nghiên cứu điển hình về doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Việt Nam” được đăng trên tạp chí “Journal of Business School”.
Nghiên cứu này có quy mô dữ liệu là một mẫu gồm 225 đáp viên, đây là những lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp ở Việt Nam, độ tuổi từ 18-50 tuổi, 52% là nhân viên nữ. Đoàn Việt Dũng va Đào Quyết Thắng đã sử dụng phương pháp EFA và hồi quy OLS,. Kết luận cuối cùng được đưa ra là có 5 yếu tô tác động tích cực đến động lực làm việc của người lao động gồm có: (1) Bản chất công việc, (2) Quan hệ xã hội, (3) Sự quan tâm và ghi nhận của lãnh đạo và đồng nghiệp, (4) Yếu tố vật chất, (5) Cơ hội học tập và thăng tiến. Trong đó Bản chất công việc là yêu tô ảnh hưởng mạnh nhât, còn Yêu tô vật chât ảnh hưởng yêu nhât.
Trương Thị Em (2020) với bài viết “Các nhân to ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức Quận 5 — Thành phố Hồ Chí Minh”. Sau khi thực hiện thảo luận nhóm, tác giả tiếp tục thu thập mẫu khảo sát gồm 238 cán bộ nhân viên Quận 5. Sau đó tiến hành thống kê mô tả và xử lý dữ liệu băng SPSS v.20 với các kỹ thuật phân tích định lượng như phân tích cronbach’s alpha, EFA, hồi quy và kiểm định ANOVA. Kết luận cuối cùng của nghiên cứu chỉ ra rằng có 06 yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên theo thứ tự giảm dần gồm: (1) Quan hệ đồng nghiệp, (2) Đào tạo thăng tiến, (3) Lãnh đạo, (4) Tiền lương và phúc lợi, (5) Mỗi trường làm việc, (6) Bản chất công việc.
Lê Bảo Trung (2020) đã thực hiện bài viết “Các yếu tổ ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Bảo hiểm Xã hội Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tau”. Tác giả thu thập dữ liệu từ 168 nhân viên, sau đó sử dung SPSS v.20 dé xử lý dữ liệu với day đủ các kỹ thuật như kiểm định độ tin cậy thang đo, EFA, tương quan,.Nghiên cứu đi đến 7 kết luận là có 7 yếu té ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên, theo thứ tự giảm dần như sau: (1) Sự công nhận, (2) Bản chất công việc, (3) Thu nhập và phúc lợi, (4) Lãnh đạo, (5) Đồng nghiệp, (6) Môi trường làm việc, (7) Cơ hội đảo tạo và thăng tiến. Tuy nhiên, đề tài có hạn chế là sử dụng kích thước mẫu nhỏ, chưa thể hiện khái quát cho ngành Bảo hiểm Xã hội nên chưa phát hiện ra các nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Bảo hiểm Xã hội Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.3 Khoảng trống nghiên cứu Qua việc tìm hiểu những tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề động lực làm việc của nhân viên, có thể thấy các nhân tố tác động đến động lực của người lao động trong bài nghiên cứu không phải là điều mới mẻ, tuy nhiên khi nghiên cứu về động lực làm việc của người lao động tại Công ty Bao bì Tri-Wall thì vẫn chưa có một nghiên cứu nào về động lực làm việc của nhân viên được thực hiện tại công ty này. Trong khi thực tập tại Công ty, tác giả nhận thấy lượng luân chuyên lao động trong công ty rất lớn đặc biệt là lao động ở bộ phận sản xuất, gây phat sinh chi phí cho thiếu lao động tạm thời, tuyển dụng, đào tạo lao động mới, khó khăn trong công tác quản lý.
Vì vậy nghiên cứu của tác giả sẽ là điều cần thiết, góp phần giúp cho công ty có những định hướng, giải pháp dé tạo động lực làm việc cho người lao động. Ngoài ra, thông qua việc tổng quan một số tài liệu trong nước và quốc tế nhân thấy các tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính cho các đề tài nghiên cứu của mình, và vẫn chưa áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM cho bài nghiên cứu. Cơ sở lý luận về động lực làm việc của người lao động 1.1 Khái niệm người lao động Người lao động là danh từ chỉ những người bỏ sức lao động của mình dé thu lại một nguồn lợi tức nhất định từ chính sức lao động đó. Họ là những người làm công ăn lương, đóng góp sức lao động của mình, bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động bằng cách thực hiện những nhiệm vụ, công việc cụ thể mà nguoi su dụng lao động đề ra và hoàn thành nó.2 Khái niệm động lực làm việc Co rat nhiêu khái niệm khác nhau vê động lực làm việc nhưng nội ham của chúng đều hướng tới sự khao khát và tự nguyện nỗ lực làm việc của người lao động.
Theo Vroom (1964) động lực là trạng thái hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc. Theo Robbins (1993): Động lực là sự sẵn sàng để phát huy nỗ lực đạt mục tiêu cao nhất của tổ chức, với điều kiện là tổ chức phải có khả năng đáp ứng một số nhu câu cá nhân. Theo Mullins (2007): Động lực có thé được định nghĩa như là một động lực bên trong có thể kích thích cá nhân nhằm đạt mục tiêu để thực hiện một số nhu cầu hoặc mong đợi.