phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận đƣợc chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho cán bộ nhân viên của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho cán bộ nhân viên Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Nam Á Chi nhánh Láng Hạ. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực cho cán bộ nhân viên Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Nam Á (SeABank) Chi nhánh Láng Hạ. 2 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NHÂN VIÊN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát chung về động lực và tạo động lực 1. Nhu cầu “ Nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trƣờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngƣời có những nhu cầu khác nhau.” [1] Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con ngƣời cảm nhận đƣợc. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con ngƣời hoạt động.
Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con ngƣời càng cao. Nhu cầu của một cá nhân đa dạng và vô tận. Về mặt quản lý, ngƣời quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Động lực Làm thể nào để khuyến khích ngƣời lao động làm việc hăng say, sáng tạo? Làm thế nào tạo động lực cho ngƣời lao động? Đây là những câu hỏi mà các nhà quản trị luôn trăn trở và tìm câu trả lời.
Mỗi một cá nhân lại có nhận thức riêng có ngƣời luôn hào hứng làm việc và cống hiến nhƣng cũng có không ít những ngƣời lao động không nhiệt tình, không cố gắng. Nhân tố đánh dấu sự khác biệt trong nhận thức làm việc của mỗi cá nhân đƣợc các nhà kinh tế học đồng tình chính là động lực lao động. Bùi Anh Tuấn- Giáo trình hành vi tổ chức-2009: “ Động lực lao động là những yếu tố bên trong kích thích con ngƣời làm việc cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của bản thân ngƣời lao động.
Nguyễn Vân Điềm & TS. Nguyễn Ngọc Quân (2007), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân “ Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con ngƣời để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt đƣợc mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó” .[3] Động lực đƣợc hiểu là sự khao khát và tự nguyện, có nghĩa nó không xuất phát từ một sự cƣỡng chế nào, nó không phát sinh từ mệnh lệnh hành chính, động lực xuất phát từ trong tâm của ngƣời lao động. “Tăng cƣờng nỗ lực”: không biểu hiện qua lời nói mà qua hành động cụ thể để nhắm tới việc đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Tạo động lực “ Tạo động lực đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc.
Tạo động lực cho ngƣời lao động là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý. Một khi ngƣời lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng, tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác. Lê Thanh Hà (2012), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Lao động - Xã hội, Hà nội “ Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.” [4] Vậy để tạo động lực lao động mạnh mẽ cho ngƣời lao động cần phải tìm những biện pháp nhằm tăng cƣờng sự thỏa mãn của con ngƣời về cả vật chất lẫn tinh thần thúc đẩy họ đem hết khả năng của mình cống hiến gắn bó với tổ chức. Quá trình tạo động lực: Nhu cầu không đƣợc thỏa mãn -> Sự căng thẳng -> Các động cơ -> Hành vi tìm kiếm -> Nhu cầu đƣợc thỏa mãn -> Giảm căng thẳng.
Vai trò và mục đích của tạo động lực 1. Vài trò Tạo động lực đóng vai trò rất quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động nhƣ một sức mạnh vô 4 hình từ bên trong con ngƣời thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Mặc dù quá trình tạo động lực lao động không tạo ra hiệu quả tức thời và đòi hỏi khá nhiều chi phí và thời gian nhƣng nếu doanh nghiệp thực hiện tốt công tác này thì đem lại rất nhiều lợi ích, không chỉ cho bản thân ngƣời lao động mà còn cho doanh nghiệp và cho xã hội.
Đối với bản thân ngƣời lao động Động lực lao động là yếu tố thúc đẩy ngƣời lao động làm việc nhiệt tình và có trách nhiệm hơn trong công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao, đạt năng suất và chất lƣợng cao, từ đó làm tăng doanh thu để đáp ứng mục tiêu của công ty. Khi mục tiêu của công ty đạt đƣợc thì sẽ có điều kiện nâng cao mức sống về vật chất lẫn tinh thần cho ngƣời lao động. Bên cạnh đó, tạo động lực giúp ngƣời lao động có tinh thần làm việc thoải mái, các áp lực tâm lý do công việc đem lại không làm họ cảm thấy mệt mỏi, chán nản. Khi tinh thần làm việc thoải mái, ngƣời lao động dễ phát huy tính sáng tạo trong công việc giúp công ty có nhiều cách làm mới hiệu quả giảm đƣợc chí phí, nâng cao năng suất lao động, hiệu suất công việc và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
Khi ngƣời lao động có động lực thì ngƣời lao động cảm thấy hiểu rõ và yêu thích công việc. Ngoài ra họ còn nhìn thấy đƣợc sự quan tâm của công ty dành cho họ và sẽ gắn bó với công ty lâu dài. Đối với doanh nghiệp Tạo động lực lao động là một hoạt động lớn và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác quản lý, nó có tác động đến việc khuyến khích lao động làm việc hăng say và tích cực, giúp cho doanh nghiệp khai thác tối đa khả năng tiềm tàng của ngƣời lao động và sử dụng hiệu quả nhất nguồn nhân lực của mình, nâng cao năng suất lao động, làm cho công ty hoạt động hiệu quả, thúc đẩy sản xuất ngày càng phát triển. Một chính sách tạo động lực tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp có một đội ngũ lao động giỏi, trung thành, hạn chế tối đa việc chảy máu chất xám, từ đó giảm đƣợc chi phí tuyển dụng, đào tạo.
Ngoài ra, nó còn giúp cho doanh nghiệp thu hút đƣợc nhiều lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn cao, từ đó góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp. 5 Việc tạo động lực lao động tạo bầu không khí làm việc thoải mái, thân thiện góp phần xây dựng văn hoá doanh nghiệp lành mạnh và tốt đẹp. Đối với xã hội Một trong những mục tiêu chiến lƣợc của sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững là con ngƣời, bởi tất cả mọi của cải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con ngƣời tạo ra. Để tăng năng suất lao động của cá nhân cũng nhƣ của doanh nghiệp, con ngƣời phải có động lực lao động để thực hiện.
Khi năng suất suất lao động tăng sẽ làm cho của cải vật chất tạo ra cho xã hội ngày càng nhiều và do vậy nền kinh tế - xã hội có sự tăng trƣởng. Kinh tế - xã hội tăng trƣởng sẽ giúp con ngƣời có điều kiện thoả mãn những nhu cầu của mình ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Điều này cho thấy động lực lao động đã gián tiếp xây dựng xã hội phát triển dựa trên sự phát triển của các doanh nghiệp. Mục đích Khuyến khích, thúc đẩy ngƣời lao động làm việc sáng tạo, hiệu quả.
Tạo cảm hứng cho ngƣời lao động làm việc và cống hiến hết mình. Giúp tổ chức giữ chân đƣợc ngƣời giỏi gắn bó và làm việc với tổ chức từ đó đạt đƣợc mục tiêu đặt ra. Tạo đƣợc sự thu hút đối với các lao động khác từ đó giúp tổ chức có lợi thế cạnh tranh trên thị trƣờng. Các học thuyết về tạo động lực cho nhân viên 1.
Hệ thống thứ bậc các nhu cầu của Maslow Abraham Maslow là một nhà tâm lý học ngƣời Mỹ. Ông là ngƣời đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp Nhu Cầu năm 1943. Tháp nhu cầu của Maslow cho rằng: con ngƣời có 5 lớp nhu cầu cơ bản: Nhu cầu sinh lý: bao gồm những đòi hỏi cơ bản về ăn, uống và ngủ. Nhu cầu an toàn: bao gồm nhu cầu về ở, mặc và những cách bảo vệ bản thân khác.
Nhu cầu xã hội: bao gồm sự mong muốn đƣợc quan hệ với những ngƣời khác, trao và nhận tình cảm, sự quan tâm và sự chi phối hành động. 6 Nhu cầu đƣợc tôn trọng: bao gồm giá trị bản thân, sự độc lập, thành quả, sự công nhận và tôn trọng từ những ngƣời khác. Nhu cầu tự khẳng định mình: bao gồm mong muốn tiến bộ, phát triển và tự hoàn thiện, phát huy những tiềm năng của mình.1: Tháp nhu cầu của Maslow Theo Maslow, các nhu cầu này đƣợc sắp xếp từ thấp đến cao, các nhu cầu ở cấp độ thấp hơn phải đƣợc thoả mãn thì mới nảy sinh các nhu cầu cao hơn.Việc nghiên cứu nhu cầu của ngƣời lao động giúp cho các nhà quản trị xác định ra những nhu cầu quan trọng nhất của nhân viên từ đó có cách thức để thỏa mãn để nâng cao động lực làm việc giúp nhân viên hoàn thành công việc và góp phần hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Hệ thống hai yếu tố của Fredeic Herzberg Frederick Herzberg là nhà tâm lý học ngƣời Mỹ, cha đẻ của thuyết hai nhân tố công bố năm 1959.
Các nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn đối với công việc đƣợc gọi là nhân tố động viên (Motivator) – nhân tố bên trong. Các nhân tố liên quan đến bất mãn đƣợc gọi là các nhân tố duy trì.1: Thuyết hai nhân tố của Herzberg Nhân tố duy trì Nhân tố động viên • Các chính sách, quy định về quản lý • Sự thành đạt trong công việc của tổ chức. • Sự thừa nhận thành tích. • Sự giám sát, hƣớng dẫn trong công • Bản thân công việc ( mức độ hấp dẫn, việc.
mức độ thách thức).