mở đầu với việc tóm tắt những kết quả chính tìm được trong quá trình nghiên cứu, trước khi thảo luận những đóng góp của nghiên cứu vào khối kiến thức chung về cùng chủ đề. Cuối cùng, những hạn chế của nghiên cứu cũng được phân tích nhằm gợi ý hướng nghiên cứu sâu hơn cho những nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG RỔ HÀNG HÓA XUẤT KHẨU 1. Chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu 1.
Khái niệm Thương mại quốc tế từ lâu đã được coi là một trong những thành phần không thể thiếu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Song thương mại quốc tế không chỉ quan trọng dưới góc độ tổng kim ngạch xuất khẩu, hay mức độ mở cửa với thương mại quốc tế. Câu hỏi trung tâm được đặt ra cho mỗi quốc gia là họ sẽ nên sản suất những gì, và nên xuất khẩu những gì? Những gì một nước xuất khẩu có ngụ ý rất lớn rất tiềm năng phát triển của quốc gia đó trong tương lai (Hausmann et al. Nhiều nhà kinh tế đã trăn trở với vấn đề này và gợi ý những thuộc tính để phân biệt một rổ hàng hóa xuất khẩu mong muốn, ví dụ như: xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên là một lời nguyền ((Prebisch, 1959, Sachs and Warner, 2001); hàng hóa công nghệ cao (high tech goods) hỗ trợ sự phát triển cho nền kinh tế tri thức (Brambilla et al., 2012), không gian sản phẩm (product space) bao gồm những “cây” (trees, những sản phẩm) và doanh nghiệp là những “con khỉ” (monkeys) có thể nhảy từ cây này sang cây khác để chiếm lĩnh những mảng khác nhau của khu rừng và kích hoạt tăng trưởng kinh tế (Hausmann and Klinger, 2007).
Gây tranh cãi không kém là ý tưởng rằng những hàng hóa thâm dụng lao động không có kỹ năng sẽ mang lại lợi ích cho người nghèo và tạo ra sự chia sẻ thành tựu tăng trưởng, còn những hàng hóa thâm dụng lao động có kỹ năng sẽ tạo ra ngoại tác tích cực cho nền kinh tế (Krueger and Lindahl, 2001). Hướng đi gần đây được quan tâm là chất lượng của rổ hàng hóa xuất khẩu (export quality) thể hiện bởi khái niệm “mức độ tinh vi của rổ hàng hóa xuất khẩu” (export sophistication) đề xuất bởi Lall et al. (2006) và Hausmann et al. Theo đó, rổ hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia được coi là tinh vi hơn1, hay có chất lượng cao hơn, nếu thu nhập trung bình của những nhà xuất khẩu nước đó cao hơn.
Lô-gic ở đây khá đơn giản: trong điều kiện thương mại tự do, những sản phẩm được xuất khẩu bởi nước giàu (nước phát triển) hẳn phải sở hữu một thuộc tính gì đó cho phép những nhà sản xuất có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới mà vẫn trả mức lương cao hơn cho người lao động. Thuộc tính đơn giản nhất có thể kể đến là mức giá, 1 Nhóm chưa đưa ra được một từ tiếng Việt tương đương với “sophistication”, cách dịch “tinh vi” có thể chưa phù hợp. Do đó nhóm vẫn sử dụng từ “chất lượng” để ám chỉ thuật ngữ này. 8 hay giá một đơn vị sản phẩm (unit value) đề xuất bởi Sutton (2001).
Tuy nhiên, thực tế là một số mặt hàng được các nước phát triển xuất khẩu với giá một đơn vị sản phẩm thấp hơn mặt hàng tương đương xuất khẩu bởi các nước đang phát triển. Rổ hàng hóa xuất khẩu có chất lượng cao hơn mang nội hàm rộng hơn thế. Theo Lall et al. (2006), những thuộc tính đó phải bao gồm công nghệ như một nhân tố ảnh hưởng quan trọng, nhưng cũng bao hàm nhiều nhân tố khác có thể kể ra như sau: + Công nghệ: Công nghệ tiên tiến có lẽ là nguồn cạnh tranh chính của các nước phát triển.
Công nghệ ở đây không chỉ là những sản phẩm (là kết quả của quá trình nghiên cứu triển khai R&D) hay quá trình đổi mới, mà còn nằm ở khả năng vận hành công nghệ một cách hiệu quả và cải thiện chúng theo thời gian, hiện thực hóa lợi thế kinh tế theo quy mô, hoặc tổ chức và khai thác chuỗi cung ứng một cách hiệu quả. Sản phẩm cần đến công nghệ tiên tiến ở tất cả các dạng này sẽ có xu hướng được xuất khẩu bởi các quốc gia sở hữu những kỹ năng tiên phong, khả năng công nghệ và hệ thống đổi mới sáng tạo mạnh mẽ như các công ty chuyên về nghiên cứu phát triển hay trường đại học tốt, hệ thống luật phát mạnh mẽ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, và sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và các tổ chức công nghệ. Do đó, chất lượng sản phẩm cao hơn có xu hướng phản ánh sự phức tạp hơn về công nghệ, bao gồm nỗ lực nắm bắt kỹ thuật mới, kỹ năng, chuỗi cung ứng và hệ thống đổi mới sáng tạo. + Marketing: Thiết kế và đóng gói hiện đại, khả năng xây dựng thương hiệu mạnh, khả năng cá nhân hóa sản phẩm theo yêu cầu của từng khách hàng, và khả năng kiểm soát các kênh phân phối.
Những sản phẩm có tính phân loại cao có xu hướng được xuất khẩu bởi các nước phát triển, dù trong bối cảnh hiện nay nếu công đoạn sản xuất không thâm dụng công nghệ, nó sẽ có xu hướng được chuyển đến các nước đang phát triển trong khi các khâu thiết kế và tiếp thị vẫn được đặt ở các nước phát triển. + Logistic: Chi phí vận chuyển ảnh hưởng đáng kể đến địa điểm đặt nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu, đặc trước yêu cầu giao hàng một cách nhanh chóng. Vì các nước pahts triển là thị trường chính cho hầu hết các mặt hàng xuất khẩu, vị trí gần thị trường tiêu thụ là lợi thế không nhỏ. + Thông tin và sự gần gũi: Vị trí đặt nhà máy của các công ty đa quốc gia có thể phản ánh thông tin về năng lực sản xuất của các quốc gia, đó có thể là sự gần gũi với hệ thống và quy trình kinh doanh, ngôn ngữ, hệ thống pháp lý, v.
9 + Tài nguyên thiên nhiên: Xuất khẩu dựa trên tài nguyên thường, nhưng không phải luôn luôn, phụ thuộc vào nguồn tài nguyên sẵn có sở tại. Những quốc gia xuất khẩu lớn tài nguyên mà họ dồi dào, hoặc sử dụng công nghệ mới hiệu quả hơn so với các đối thủ thường có thu nhập cao hơn. + Cơ sở hạ tầng: Một số sản phẩm yêu cầu hạ tầng cơ sở hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, để có thể trở nên cạnh tranh. Chỉ các quốc gia có thể cung cấp và vận hành cơ sở hạ tầng hiện đại như vậy mới có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
+ Tổ chức chuỗi giá trị: Khi thương mại toàn cầu được tổ chức theo chuỗi giá trị, nguồn gốc và cách thức tổ chức các chuỗi giá trị cụ thể có thể ảnh hưởng đến các địa điểm đặt nhà máy sản xuất, vì vậy ảnh hưởng đến chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu nước sở tại. Những nhân tố kinh tế trên ảnh hưởng đến địa điểm sản xuất hàng xuất khẩu, và cả mức độ tinh vi của từng sản phẩm. Ngoài ra, các nhân tố chính sách cũng có thể có ảnh hưởng như các chính sách hạn chế thương mại và trợ cấp xuất khẩu, hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, hay các ưu đãi thương mại. Chẳng hạn, hệ thống hạn ngạch do các nước phát triển đặt ra với sản phẩm dệt may đã ảnh hưởng đến địa điểm xuất khẩu; các chính sách trợ cấp và bảo hộ nông nghiệp của các nước phát triển đã kìm hãm xuất khẩu của các nước đang phát triển; các khối thương mại tự do như NAFTA đã ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu ở các nước Mỹ Latinh; ưu đãi cho xuất khẩu chuối và đường của Liên minh châu Âu (EU) đã hỗ trợ các nhà sản xuất không hiệu quả ở các nước thuộc địa cũ, v.
Như vậy, có thể thấy chất lượng của rổ hàng hóa xuất khẩu là một sự pha trộn, sự tổng hợp của những ảnh hưởng này, mà không đơn thuần là một biểu hiện của trình độ công nghệ. Công nghệ rõ ràng là một yếu tố chính trong đó, nhưng vai trò của nó không được tách rời khỏi các yếu tố khác (trong điều kiện không có dữ liệu ở cấp độ sản phẩm cho mỗi nhân tố trên). Đo lường Với định nghĩa như trên, Lall et al. (2006) đề xuất cách đo lường mức độ tinh vi/phức tạp của một sản phẩm xuất khẩu bằng mức thu nhập bình quân gia quyền thu nhập đầu người của tất cả các quốc gia xuất khẩu sản phẩm này, trong đó trọng số là cổ thị phần xuât khẩu của mỗi quốc gia trong tổng xuất khẩu sản phẩm này trên thế 10 giới.
Tuy nhiên, lấy tỷ trọng xuất khẩu của mỗi quốc gia làm trọng số có thể sẽ đánh giá quá cao vai trò của các nước lớn hơn và xem nhẹ vai trò của các quốc gia nhỏ hơn nhưng lại có lợi thế so sánh lớn về sản phẩm đó. Vì vậy, Hausmann et al. (2007) đã phát triển một chỉ số thay thế với tên gọi PRODY – mức năng suất/chất lượng của hàng hóa Y (Productivity level of good Y) – là trung bình của thu nhập bình quân đầu người của tất cả các nước xuất khẩu sản phẩm, lấy trọng số theo mức độ lợi thế so sánh của mỗi nước xuất khẩu (thay vì thị phần xuất khẩu như cách xây dựng chỉ số của Lall et al. Sau đó, các tác giả đã định nghĩa chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu (trong nguyên tác là mức năng suất của rổ hàng hóa xuất khẩu – productivity level of an export basket, hay EXPY) là trung bình có trọng số của PRODY các sản phẩm xuất khẩu, với trọng số là tỷ trọng xuất khẩu của từng sản phẩm trong rổ hàng hóa xuất khẩu hàng hóa quốc gia.
Ý tưởng cốt lõi của hai chỉ số trên là: (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) “Một nền kinh tế sẽ được lợi hơn nếu sản xuất hàng hóa mà các nước giàu hơn xuất khẩu” và “Các nước xuất khẩu những hàng hóa có mức năng suất cao hơn sẽ có tiềm năng tăng trưởng nhanh hơn” (Hausmann et al. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã xây dựng các chỉ số khác nhau để đo lường chất lượng của rổ hàng hóa xuất khẩu hoặc hàm lượng công nghệ của xuất khẩu, song PRODY và EXPY vẫn là hai chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất. Tất nhiên, các chỉ số được xây dựng đều ít nhiều có những hạn chế. PRODY và EXPY bị chỉ trích là không tính đến sự khác biệt về chất lượng của cùng một sản phẩm xuất khẩu giữa các quốc gia.