Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về an ninh nguồn nước Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Thực trạng các nhân tố tác động đến an ninh nguồn nước dòng chính sông Đà: trường hợp tỉnh Lai Châu. Định hướng và giải pháp tăng cường đảm bảo an ninh nguồn nước sông Đà đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc và quốc tế về các yếu tố ảnh hƣởng đến an ninh nguồn nƣớc Trên thế giới hiện nay có nhiều khái niệm an ninh nguồn nước tùy vào mỗi lĩnh vực nghiên cứu điển hình.
Có thể thấy an ninh nguồn nước là khái niệm thường được s d ng, nhưng lại thiếu một định nghĩa rõ ràng và thống nhất. Tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu dựa trên việc s d ng nước như để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người hay cho các hoạt động môi trường mà có các định nghĩa về an ninh nguồn nước khác nhau như của David và Claudia (2007); Bogardi và các cộng sự (2012); UN-Water - Ủy ban Liên hợp quốc về Nước (2013) tuy nhiên đều quy chung lại ANNN là: “Kh năng a một cộng ng tiếp cận ợc ngu n n c tin cậ v oh m vấn ề ơ n: (i) mb o p ng nhu ầu ơ nc a ời s ng on ng ời v i kh năng tiếp cận n c một ầ về s l ợng v hất l ợng chấp nhận ợc, (ii) b o v m i tr ờng, h sinh th i, h ng lại những hiểm họa về thi n t i li n qu n ến n c, (iii) ph c v ph t triển bền vững”. Đã có nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức đưa ra các định nghĩa khác nhau về an ninh nguồn nước, trong đó phải kể đến các nghiên cứu như: David và Claudia (2007) cho rằng an ninh nguồn nước là sự sẵn sàng đáp ứng của một lượng nước với số lượng và chất lượng chấp nhận được ph c v các nhu cầu về sức khỏe, sinh kế, hệ sinh thái và sản xuất, kèm theo những mức độ rủi ro đối với con người, môi trường và nền kinh tế. Bogardi và các cộng sự (2012) cho rằng an ninh nguồn nước là sự đảm bảo nước ngọt cung cấp đủ cho hệ sinh thái liên quan được bảo vệ; là sự đảm bảo về việc sự phát triển bền vững, ổn định chính trị, mọi người dân được tiếp cận đủ lượng nước an toàn và ở mức phí vừa với khả năng chi trả để có cuộc sống khỏe mạnh và được bảo vệ trước những hiểm họa từ những nguy cơ liên quan đến nước.
9 Ủy ban Liên hợp quốc về Nước (2013) định nghĩa an ninh nguồn nước là năng lực của một cộng đồng bảo vệ được sự tiếp cận bền vững đủ lượng nước có chất lượng chấp nhận được để duy trì sinh kế, sức khỏe con người, và phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo chống lại sự ô nhiễm lây lan qua đường nước và thiên tai liên quan đến nước, bảo tồn hệ sinh thái trong môi trường hòa bình và ổn định chính trị. Tuy các định nghĩa khác nhau, nhưng có thể chung quy lại an ninh nguồn nước là kh năng a một cộng ng tiếp cận ợc ngu n n c tin cậ v oh m vấn ề ơ n: (i) mb o p ng nhu ầu ơ nc ời s ng con ng ời v i kh năng tiếp cận n c một ầ về s l ợng v hất l ợng chấp nhận ợc, (ii) b o v m i tr ờng, h sinh th i, h ng lại những hiểm họa về thi n t i li n qu n ến n c, (iii) ph c v ph t triển bền vững. An ninh nguồn nước cho phát triển kinh tế có thể được hiểu là khả năng của một cộng đồng tiếp cận được nguồn nước tin cậy ph c v cho các hoạt động nhằm đạt m c tiêu phát triển kinh tế, trong đó có các khía cạnh liên quan đến an ninh lương thực (ANLT), tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Bước vào thế kỷ XXI, sự gia tăng dân số hiện nay đang tạo sức ép cho việc khai thác và s d ng tài nguyên nước.
Theo báo cáo mới nhất của Liên Hiệp Quốc, 60 năm trước, dân số thế giới chỉ là 2,5 tỉ người, năm 2000 là 6 tỉ người, năm 2010 gần 7 tỉ người và dự đoán đến năm 2050 sẽ vượt mức 9 tỉ người, kéo theo đó là nhu cầu lương thực tăng 70% và nhu cầu nước tăng 19%. Nhận thức được tầm quan trọng về nhu cầu s d ng nước ngày một tăng cũng như tầm quan trọng của việc đảm bảo an ninh nguồn nước ph c v cho phát triển kinh tế, xã hội, các Quốc gia, các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học không ngừng đưa ra những sáng kiến, nghiên cứu về an ninh nguồn nước và các vấn đề liên quan tới công tác đảm bảo an ninh nguồn nước ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia. Hiện nay, đã có một số nghiên cứu các vấn đề khác nhau liên quan tới quy hoạch, điều tra, bảo vệ phát triển bền vững nguồn nước và các yếu tố tác động (nguy cơ) mất an ninh nguồn nước. Trong đó phải kể đến các nghiên cứu sau: 10 1.
ghiên cứu các nhân tố tác động tự nhiên nh hư ng đến an ninh nguồn nước Yong Jiang (2015) đã phân tích và đánh giá an ninh nguồn nước của Trung Quốc. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng Trung Quốc hiện đang phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước ngày càng tăng, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế-xã hội và phát triển bền vững của đất nước này. Tổng khối lượng nguồn nước ngọt tái tạo nội bộ của Trung Quốc trung bình là khoảng 2813tỷ m3 mỗi năm. Mặc dù xếp thứ năm trên thế giới sau Brazil, Nga, Canada, và Indonesia, khối lượng nước bình quân đầu người tại Trung Quốc là thấp.
Tính đến năm 2012, với tổng số dân số khoảng 1,36 tỷ, lượng nước sẵn có hàng năm bình quân đầu người của Trung Quốc khoảng 2068 m3 (trong khi mức bình quân của thế giới là 6016 m3). Trong khi đó, tổng lượng nước tiêu th của Trung Quốc tăng lên đều đặn, trong đó nông nghiệp là ngành s d ng lượng nước lớn nhất giữa các ngành. Tổng lượng nước tiêu th của Trung Quốc tăng từ 550 tỷ m3 (năm 2000) lên tới 614 tỷ m3 (năm 2012), với tốc độ tăng trưởng bình quân 0,97% mỗi năm. Trong tổng số nước s d ng, nông nghiệp chiếm 61-69%, công nghiệp 21-24%, s d ng nội địa chiếm 10-13%, và môi trường 1-2%.
Hơn nữa, việc s d ng nước nông nghiệp liên t c tăng lên 388 tỷ m3 vào năm 2012, mặc dù giảm từ 378 tỷ m3 trong năm 2000 xuống 343 tỷ m3 (năm 2003). Đứng trước thực trạng này, quản lý nước đã nhận được sự chú ý rất lớn từ chính phủ Trung Quốc. Trong những năm gần đây, chính phủ Trung Quốc đã thông qua nhiều chính sách để giải quyết vấn đề thiếu h t nguồn nước cho khai thác, s d ng. Phạm Thành Dung (2014) đã trình bày 04 nguy cơ thách thức đối với an ninh nguồn nước tại Việt Nam, bao gồm: (i) trên 60% dòng chảy sông ngòi là từ nguồn nước ngoài lãnh thổ Việt Nam, do đó quá trình quản lý, s d ng nguồn nước ph c v phát triển kinh tế - xã hội ở các nước thượng nguồn đã và đang gây khó khăn, bất lợi cho Việt Nam.
Bên cạnh đó, các đập thủy điện đã và dự kiến xây dựng ở Trung Quốc, Lào, Campuchia sẽ là mối đe dọa làm giảm sút nguồn nước, nguồn cá, phù sa, hệ sinh thái,… đối với Việt Nam. Tổng lượng nước mưa của Việt Nam là cao nhưng phân bố không đồng đều. Điều này gây bất lợi lớn đối với việc quản lý, điều 11 tiết s d ng có hiệu quả nguồn nước, xuất hiện chênh lệch cung và cầu, thừa và thiếu giữa các vùng miền, về thời gian và không gian; (ii) thiên tai và biến đổi khí hậu đã và đang đe dọa tài nguyên nước. Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia trên thế giới chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu cả trong hiện tại và tương lai.
Tai biến môi trường, biến đổi khí hậu, trái đất nóng lên, nước biển dâng, bão lũ, hạn hán xuất hiện với tần suất và cương độ ngày càng lớn để lại hậy quả ngày càng nặng nề hơn về kinh tế - xã hội, trong đó có nguồn tài nguyên nước; (iii) chất lượng nguồn nước đang có nguy cơ suy giảm nghiêm trọng. Tài nguyên nước Việt Nam đang trên đà suy thoái, thiếu h t không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng nước. Do áp lực tăng dân số, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực,…, đặc biệt là quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, thiếu đồng bộ, kém hiệu quả trong đó có quản lý tài nguyên rừng, tài nguyên nước…; (iv) nhu cầu s d ng nước ở Việt Nam ngày càng tăng cao, do áp lực phát triển kinh tế - xã hội, dân số tăng cùng với nhu cầu chất lượng cuộc sống nâng lên cả về vật chất và tinh thần. Trong khi đó, tài nguyên nước suy giảm cả về số lượng và chất lượng.
Năm 1990, nhu cầu nước cho dân d ng và công nghiệp của nước ta là khoảng 50 tỷ m3/năm, năm 2010 tăng lên 72 tỷ m3/năm. Theo dự báo đến năm 2020 sẽ là 80 tỷ m3/năm. Khối lượng, nhu cầu về nước theo dự báo này chiếm 11% tổng tài nguyên nước hoặc 29% tài nguyên nước nội địa ở nước ta. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia, đảm bảo an ninh nguồn nước, bao gồm: (i) nhà nước cần có chiến lược tổ chức nghiên cứu khảo sát tổng thể tài nguyên nước và dự báo tổng nhu cầu s d ng nước (nước ph c v phát triển kinh tế, sinh hoạt, dự trữ,…) của quốc gia để có cơ sở, căn cứ khai thác, s d ng nguồn nước hợp lý, có hiệu quả, bền vững trong hiện tại và tương lai; (ii) xây dựng chiến lược tổng thể về an ninh quốc gia trong tình hình mới nhằm ứng đó với các nguy cơ đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trong xu thế hội nhập quốc tế.
Trần Thị Lan Hương (2013) đã chỉ ra vai trò của tài nguyên nước trong phát triển kinh tế của Ai Cập.