Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hôn nhân và gia đình giữ vai trò nền tảng trong việc duy trì liên kết xã hội, nuôi dưỡng và phát triển các thế hệ tương lai. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình đã hình thành từ sớm nhằm bảo vệ trật tự đạo đức và kỷ cương xã hội. Sau 13 năm áp dụng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bộc lộ những điểm bất cập trước biến chuyển kinh tế - xã hội. Để khắc phục các hạn chế này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện các quy định trước đó.

Mặc dù việc thực thi các quy định về cấm kết hôn đã đạt được kết quả bước đầu, thực tiễn vẫn ghi nhận nhiều hành vi vi phạm: kết hôn khi đang có vợ hoặc có chồng, kết hôn cận huyết thống trong phạm vi ba đời, cùng dòng máu về trực hệ, hoặc lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích trục lợi cá nhân. Các hành vi này tác động tiêu cực đến công tác quản lý hộ tịch của Nhà nước, suy giảm chất lượng giống nòi, xâm phạm thuần phong mỹ tục và làm suy giảm tính bền vững của tế bào gia đình. Đồng thời, hiệu quả áp dụng các chế tài xử lý vi phạm trên thực tế vẫn chưa đạt yêu cầu răn đe. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Tô Ngọc Diệp thực hiện khóa luận tốt nghiệp "Các trường hợp cấm kết hôn theo pháp luật hiện hành" thuộc chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024), dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Đỗ Hoài Anh.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về các trường hợp cấm kết hôn, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn. Để đạt được mục đích này, đề tài thực hiện 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về các trường hợp cấm kết hôn;
  2. Phân tích thực trạng các trường hợp cấm kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các biện pháp xử lý theo quy định pháp luật;
  3. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về cấm kết hôn và từ đó đưa ra một số hạn chế, vướng mắc của việc thực hiện pháp luật;
  4. Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về các trường hợp cấm kết hôn, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện của quy định pháp luật.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các quy định pháp luật về các trường hợp cấm kết hôn và thực tiễn thực hiện các quy định này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các nội dung của pháp luật thực định Việt Nam theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, kết hợp nghiên cứu các trường hợp thực tiễn phát sinh trên thực tế.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện hệ thống pháp luật hôn nhân gia đình. Về mặt phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống gồm:

  • Phương pháp phân tích: Làm rõ các yếu tố cấu thành khái niệm, nội dung từng trường hợp cấm kết hôn và cơ chế xử lý tương ứng.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp số liệu thực tế về tình hình kết hôn cận huyết thống và xử lý vi phạm hành chính, tư pháp.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Luận giải từ các nguyên tắc chung của pháp luật đến việc áp dụng từng điều khoản cụ thể và ngược lại.
  • Phương pháp tổng hợp: Rút ra các nhận định đánh giá tổng quát về thực trạng lập pháp và thực tiễn thi hành.

Khung pháp lý và tài liệu nghiên cứu được khai thác trực tiếp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936, Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, Hiến pháp năm 1946, 2013; các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000, 2014; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Nuôi con nuôi năm 2010; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP); Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP và Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao. Bên cạnh đó, tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu của các học giả chuyên ngành như Nguyễn Thị Hiển (2013), Bùi Thị Mừng (2015), Bùi Thế Mạnh (2017), Nguyễn Thị Bích Loan (2020), Dương Danh Thành (2020).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các trường hợp cấm kết hôn

Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm cơ bản, ý nghĩa pháp lý - xã hội và quá trình phát triển lịch sử của chế định cấm kết hôn tại Việt Nam:

  • Khái niệm kết hôn và cấm kết hôn: Kết hôn theo khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Việc xác lập này phải bảo đảm hai yếu tố: sự tự nguyện của hai bên và sự công nhận của Nhà nước thông qua cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyền. Cấm kết hôn được định nghĩa là việc pháp luật không cho phép nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng trong những trường hợp cụ thể nhằm bảo vệ trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục và chất lượng nòi giống.
  • Ý nghĩa của việc quy định cấm kết hôn: Bao gồm bốn nhóm ý nghĩa: bảo đảm sự lành mạnh của nòi giống và trật tự kỷ cương gia đình; bảo đảm xây dựng gia đình hòa thuận, vững mạnh; bảo đảm tính thống nhất với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân gia đình (đặc biệt là nguyên tắc một vợ một chồng); và bảo vệ mục đích chân chính của hôn nhân (loại trừ việc lợi dụng kết hôn nhằm trục lợi tài sản hoặc các lợi ích cá nhân khác).
  • Tiến trình lịch sử của quy định cấm kết hôn qua các thời kỳ:
    • Thời kỳ phong kiến: Bộ luật Hồng Đức cấm kết hôn khi đang có tang cha mẹ, tang chồng (Điều 317), cấm anh lấy vợ góa của em, em lấy vợ góa của anh, trò lấy vợ góa của thầy (Điều 324). Bộ luật Gia Long cấm quan lại cưới phụ nữ thuộc quyền cai quản làm thê thiếp (Điều 103, Điều 183) nhằm duy trì tôn ti và tránh lạm quyền.
    • Thời kỳ Pháp thuộc: Tồn tại ba hệ thống luật khác nhau theo địa giới hành chính. Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883 quy định độ tuổi kết hôn là nam 16, nữ 14. Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931 quy định nam 18, nữ 15 (Điều 73, cho phép giảm tối đa 3 tuổi), cấm kết hôn họ hàng thân thích (Điều 74), cấm lấy vợ lẽ khi chưa có vợ chính (Điều 80) và cấm tái giá trong thời gian để tang (Điều 84: vợ góa phải sau 27 tháng, chồng góa sau 12 tháng). Bộ dân luật Trung Kỳ 1936 quy định tương tự về độ tuổi tại Điều 73.
    • Giai đoạn 1945 - 1954: Hiến pháp 1946 xác lập nguyên tắc nam nữ bình quyền; Sắc lệnh số 97 ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159 ngày 17/11/1950 từng bước bãi bỏ các tàn dư hôn nhân phong kiến lạc hậu.
    • Giai đoạn 1954 - 1975: Ở miền Bắc, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 xóa bỏ chế độ đa thê, cấm kết hôn cận huyết trực hệ, cấm cha mẹ nuôi với con nuôi, cấm người bất lực hoàn toàn về sinh lý hoặc mắc bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc chưa chữa khỏi. Ở miền Nam, các văn bản của chính quyền Sài Gòn (Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15-64 năm 1964, Bộ dân luật 1972) bãi bỏ đa thê nhưng vẫn duy trì đặc quyền gia trưởng.
    • Giai đoạn từ 1975 đến nay: Luật năm 1986 quy định cấm tảo hôn, cấm người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hoa liễu, cấm kết hôn trong phạm vi ba đời. Luật năm 2000 bổ sung cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, cấm giữa bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể; bỏ cấm người mắc bệnh hoa liễu và thay bằng người mất năng lực hành vi dân sự. Đến Luật năm 2014, điều khoản cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính được chuyển thành "Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính" (khoản 2 Điều 8), đồng thời mở rộng hành vi cấm chung sống như vợ chồng trái pháp luật.
  • Cơ sở xác lập quy định cấm kết hôn: Dựa trên cơ sở lý luận kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật - y học (chứng minh tác hại di truyền của việc kết hôn cận huyết) và cơ sở thực tiễn về thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc.
Giai đoạn lịch sử Văn bản tiêu biểu Nội dung cấm kết hôn đặc thù
Phong kiến Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long Cấm kết hôn khi có tang (Điều 317 Hồng Đức); cấm anh em lấy vợ góa của nhau; cấm quan cưới phụ nữ thứ dân làm thê thiếp (Gia Long).
Pháp thuộc BLDS Bắc Kỳ 1931, Trung Kỳ 1936, Dân luật Nam Kỳ 1883 Cấm kết hôn chưa đủ tuổi (nam 18, nữ 15); cấm lấy vợ lẽ khi chưa có vợ chính; cấm kết hôn trong thời gian để tang.
1954 - 1975 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (miền Bắc) Bãi bỏ đa thê; cấm người mắc bệnh hoa liễu, bệnh hủi, loạn óc chưa chữa khỏi; cấm cùng dòng máu trực hệ.
1986 - 2000 Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 Luật 1986 cấm bệnh hoa liễu; Luật 2000 bỏ cấm bệnh hoa liễu, bổ sung cấm kết hôn cùng giới tính, cấm con riêng với bố dượng/mẹ kế.
Hiện hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Bỏ cấm kết hôn cùng giới tính (chuyển sang không thừa nhận); cấm kết hôn giả tạo; cấm chung sống như vợ chồng khi đang có vợ/chồng.

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn

Chương 2 phân tích chuyên sâu các trường hợp cấm kết hôn quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và hệ thống các biện pháp chế tài xử lý:

  • Các trường hợp cấm kết hôn theo luật định:
    1. Cấm kết hôn giả tạo: Bản chất là hành vi lợi dụng hình thức đăng ký kết hôn hợp pháp bề ngoài nhằm thực hiện mục đích khác ngoài việc xây dựng gia đình (như xuất cảnh, nhập quốc tịch, cư trú, phân chia tài sản, hưởng ưu đãi). Hệ lụy là làm gia tăng các đường dây môi giới hôn nhân bất hợp pháp, nguy cơ mua bán người và làm gia tăng tỷ lệ ly hôn thực tế.
    2. Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn: Cụ thể hóa nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo Hiến pháp năm 2013. Tác giả dẫn chiếu khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP để nhận diện ba nhóm đối tượng đang có vợ, có chồng hợp pháp. Đồng thời, phân tích trường hợp đặc biệt đối với cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc lấy vợ khác được xử lý theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao (xem xét giải quyết dựa trên hậu quả chiến tranh, ưu tiên hòa giải tự thỏa thuận).
    3. Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời: Khoản 17 và 18 Điều 3 Luật năm 2014 định nghĩa trực hệ là người này sinh ra người kia kế tiếp; phạm vi ba đời gồm cha mẹ (đời thứ nhất), anh chị em ruột, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha (đời thứ hai), anh chị em con chú, bác, cô, cậu, dì (đời thứ ba). Dưới góc độ sinh học di truyền, cơ thể người mang 500.000 - 600.000 gene, hôn nhân cận huyết tạo điều kiện cho các gene lặn bệnh lý đồng hợp tử gặp nhau, dẫn đến các dị tật bẩm sinh như mù màu, bạch tạng, bệnh da vảy cá.
    4. Cấm kết hôn do quan hệ nuôi dưỡng và thân tộc phát sinh từ hôn nhân: Điểm d khoản 2 Điều 5 cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; bố dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng. Quy định nhằm giữ gìn tôn ti trật tự gia đình, ngăn chặn tình trạng biến tướng tình cảm làm rạn nứt gia đình và bảo đảm môi trường giáo dục lành mạnh cho trẻ em.
  • Cơ chế xử lý vi phạm pháp luật về cấm kết hôn:
    • Xử lý theo Luật Hôn nhân và gia đình: Tòa án căn cứ Điều 10 và 11 Luật năm 2014 để xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Chủ thể có quyền yêu cầu bao gồm vợ/chồng của người vi phạm, cha mẹ, con, người giám hộ, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em và Hội Liên hiệp Phụ nữ. Hướng xử lý gồm: hủy kết hôn trái pháp luật; công nhận hôn nhân nếu tại thời điểm giải quyết các bên đã đủ điều kiện và cùng yêu cầu; hoặc giải quyết cho ly hôn nếu đủ điều kiện và có yêu cầu. Hậu quả pháp lý: quan hệ nhân thân chấm dứt; quan hệ cha mẹ - con áp dụng như khi ly hôn (Điều 81-84); tài sản giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, có tính đến bảo vệ quyền lợi phụ nữ, trẻ em và công nhận công việc nội trợ là lao động có thu nhập.
    • Xử lý theo pháp luật hành chính: Áp dụng Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP):
      • Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng: Hành vi đang có vợ/chồng mà kết hôn; chưa có vợ/chồng kết hôn với người biết rõ đang có vợ/chồng; kết hôn giữa người từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng - con dâu, mẹ vợ - con rể, bố dượng - con riêng của vợ, mẹ kế - con riêng của chồng.
      • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng: Kết hôn cận huyết (trực hệ, phạm vi ba đời); kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; kết hôn giả tạo để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch hoặc trục lợi chính sách.
    • Xử lý theo pháp luật hình sự: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định hai tội danh: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182) với mức hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm; Tội loạn luân (Điều 184) đối với hành vi giao cấu thuận tình giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ/cùng mẹ khác cha với khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
Hành vi vi phạm Chế tài theo Luật HN&GĐ Chế tài hành chính (NĐ 82/2020/NĐ-CP) Chế tài hình sự (BLHS 2015)
Vi phạm chế độ một vợ, một chồng Hủy kết hôn trái pháp luật; chấm dứt quan hệ vợ chồng. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng (khoản 1 Điều 59). Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm (Điều 182).
Kết hôn cận huyết thống (trực hệ, phạm vi ba đời) Tòa án tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (khoản 2 Điều 59). Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu có hành vi giao cấu cấu thành Tội loạn luân (Điều 184).
Kết hôn giả tạo Bị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật khi có yêu cầu. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (khoản 2 Điều 59). Không quy định tội danh riêng; xử lý theo tội phạm liên quan nếu có lừa đảo, làm giả giấy tờ.
Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi Hủy kết hôn trái pháp luật; phân định tài sản, con chung. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (khoản 2 Điều 59). Không áp dụng chế tài hình sự nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 184.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về cấm kết hôn và một số kiến nghị

Chương 3 trình bày các số liệu thực tế về thi hành pháp luật, chỉ ra những vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện:

  • Kết quả đạt được trên thực tế: Các quy định của Luật năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cán bộ hộ tịch từ chối các trường hợp đăng ký kết hôn trái luật. Tình trạng hôn nhân cận huyết thống đã có xu hướng giảm rõ rệt. Dẫn số liệu từ nghiên cứu của Hoàng Giang (2022), tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống nói chung giảm 4,7% so với năm 2014 (năm 2014 là 26,6%, năm 2018 giảm xuống còn 21,0%; bình quân giảm 0,043%/năm). Đối với 53 dân tộc thiểu số, tỷ lệ kết hôn cận huyết thống năm 2018 là 0,56%, giảm 0,1% so với mức 0,65% của năm 2014 (bình quân giảm 0,02%/năm). Nhiều địa phương đã triển khai thành công mô hình điểm can thiệp giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết.
  • Những hạn chế, vướng mắc: Tình trạng vi phạm quy định cấm kết hôn vẫn còn diễn biến phức tạp, đặc biệt là kết hôn cận huyết tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hành vi kết hôn giả tạo có yếu tố nước ngoài rất khó phát hiện và chứng minh do hồ sơ đăng ký kết hôn bảo đảm đầy đủ tính hợp thức về mặt giấy tờ; việc phối hợp liên ngành giữa cơ quan tư pháp, công an và tòa án trong xác minh hồ sơ hộ tịch còn thiếu đồng bộ.
  • Nguyên nhân vướng mắc: Tồn tại phong tục tập quán lạc hậu ăn sâu trong nhận thức của một bộ phận người dân; trình độ dân trí và hiểu biết pháp luật chưa đồng đều; công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tại cơ sở chưa thường xuyên; mức xử phạt hành chính trước đây còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe.
  • Hệ thống kiến nghị của tác giả:
    • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật: Bổ sung các tiêu chí pháp lý cụ thể nhằm nhận diện hành vi kết hôn giả tạo; rà soát, đồng bộ hóa các chế tài xử phạt hành chính và hình sự; nâng cao mức xử phạt đối với các hành vi cố tình vi phạm chế độ một vợ một chồng.
    • Kiến nghị nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật: Tăng cường kiểm tra, xác minh thực tế hồ sơ đăng ký kết hôn của cơ quan tư pháp - hộ tịch cấp xã; đẩy mạnh ứng dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để liên thông tra cứu tình trạng hôn nhân; nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ hộ tịch; mở rộng các chương trình tuyên truyền pháp luật bằng tiếng dân tộc thiểu số tại các địa bàn vùng cao.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận cũng như thực tiễn của chế định cấm kết hôn trong pháp luật Việt Nam. Về mặt kết quả cụ thể, công trình đạt được các điểm chính sau:

  • Khái quát toàn diện tiến trình lịch sử quy định cấm kết hôn qua 5 thời kỳ pháp lý quan trọng của Việt Nam, làm nổi bật tính kế thừa và sự đổi mới nhân văn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với các đạo luật năm 1959, 1986 và 2000.
  • Phân tích chi tiết 4 trường hợp cấm kết hôn theo khoản 2 Điều 5 Luật năm 2014 dưới cả góc độ pháp lý, đạo đức truyền thống và cơ sở khoa học sinh học di truyền (ảnh hưởng của 500.000 - 600.000 gene đối với hôn nhân cận huyết).
  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về chế tài xử lý vi phạm thông qua sự kết hợp đồng bộ giữa pháp luật hôn nhân gia đình (hủy việc kết hôn trái pháp luật), pháp luật hành chính (Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP với khung phạt từ 3.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng) và pháp luật hình sự (Điều 182 và Điều 184 Bộ luật Hình sự năm 2015).
  • Ghi nhận số liệu thực tế về xu hướng giảm kết hôn cận huyết thống: giảm 4,7% giai đoạn 2014 - 2018 (từ 26,6% xuống 21,0%) trên phạm vi khảo sát, và giảm 0,1% đối với 53 dân tộc thiểu số (từ 0,65% xuống 0,56%).
  • Đóng góp so với các công trình trước đây: So với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiển (2013) hay Nguyễn Thị Bích Loan (2020), khóa luận của tác giả Tô Ngọc Diệp đã cập nhật khung pháp lý mới nhất tại thời điểm năm 2024, đặc biệt là việc áp dụng Nghị định số 82/2020/NĐ-CP thay thế các nghị định cũ và phân tích sâu cơ chế xử lý kết hôn giả tạo trong bối cảnh di biến động dân cư hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào pháp luật thực định Việt Nam hiện hành theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chưa tiến hành so sánh đối chiếu sâu rộng với pháp luật của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, nguồn số liệu thực tiễn tại Chương 3 chủ yếu được tổng hợp từ các báo cáo thứ cấp và nghiên cứu đã công bố, chưa thực hiện được điều tra khảo sát định lượng độc lập trên diện rộng tại nhiều địa phương.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực tế tại các Tòa án nhân dân cấp huyện để phân tích chuyên sâu các án lệ, bản án sơ thẩm về việc hủy kết hôn trái pháp luật; nghiên cứu cơ chế kiểm soát và ngăn chặn việc kết hôn giả tạo xuyên biên giới trong bối cảnh số hóa dữ liệu hộ tịch quốc gia; và đánh giá tác động thực tế của việc Nhà nước "không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính" đối với quyền lợi nhân thân và tài sản của các đối tượng liên quan.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình khi nghiên cứu về điều kiện kết hôn và hủy việc kết hôn trái pháp luật. Nội dung Chương 1 cung cấp nguồn tư liệu lịch sử pháp luật phong phú về chế định kết hôn qua các thời kỳ phong kiến, thực dân và hiện đại.

Ngoài ra, công trình có giá trị thực tiễn đối với công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã/phường trong việc tra cứu, nhận diện các trường hợp cấm kết hôn khi thực hiện đăng ký kết hôn, cũng như hỗ trợ thẩm phán, thư ký tòa án trong quá trình giải quyết các vụ việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, phân định quyền nuôi con và giải quyết quan hệ tài sản theo quy định hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Pháp luật hiện hành xác định người đang có vợ, có chồng dựa trên những tiêu chí nào?
Theo khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, người đang có vợ, có chồng gồm: (i) Người đã kết hôn đúng pháp luật nhưng chưa ly hôn và vợ/chồng chưa chết (hoặc chưa bị tuyên bố là đã chết); (ii) Người xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03/01/1987 chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn/vợ chồng chưa chết; (iii) Người kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn/vợ chồng chưa chết.

2. Điểm khác biệt cơ bản giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và năm 2014 về kết hôn cùng giới tính là gì?
Luật năm 2000 quy định rõ hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính thuộc trường hợp bị "cấm kết hôn" (khoản 5 Điều 10). Trong khi đó, Luật năm 2014 đã bãi bỏ quy định cấm này và thay bằng quy định mang tính trung lập hơn tại khoản 2 Điều 8: "Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính".

3. Khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, quan hệ con chung và tài sản được giải quyết ra sao?
Căn cứ Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ, con được giải quyết tương tự như trường hợp cha mẹ ly hôn (áp dụng Điều 81 đến 84 của Luật). Về quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo sự thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và các luật liên quan, ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em và coi công việc nội trợ là lao động có thu nhập.

4. Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi kết hôn cận huyết thống theo quy định hiện hành là bao nhiêu?
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, hành vi kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (tăng mạnh so với mức phạt quy định tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP trước đây).

5. Trường hợp cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc lấy vợ khác được pháp luật xử lý theo quy định nào?
Theo khoản 4 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, trường hợp này được xử lý theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án xem xét đây là hậu quả lịch sử do chiến tranh, tiến hành giải thích và khuyến khích các bên tự dàn xếp, thỏa thuận nhằm tìm kiếm phương án giải quyết hợp tình, hợp lý nhất.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tô Ngọc Diệp đã phân tích có hệ thống các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về các trường hợp cấm kết hôn từ phương diện lý luận, lịch sử đến thực tiễn thực thi. Công trình làm rõ bản chất pháp lý và cơ sở thực tiễn của từng trường hợp cấm, đồng thời tổng hợp đầy đủ hệ thống chế tài hành chính, dân sự và hình sự đang áp dụng. Các số liệu thực tế về xu hướng giảm hôn nhân cận huyết thống cùng các kiến nghị hoàn thiện tiêu chí nhận diện kết hôn giả tạo tạo nên giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn cho hoạt động nghiên cứu pháp luật và nghiệp vụ tư pháp hộ tịch.