Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của giới trẻ. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HUONG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CUA GIỚI TRE 2. Cơ sở lý thuyết về ý định khởi nghiệp 2. Khái niệm về khởi nghiệp Khởi nghiệp là ý tưởng kinh doanh liên quan đến các cá nhân với tính cách và khả năng độc đáo (Gartner, 1990).
Bên cạnh đó, khái niệm “Khởi nghiệp” là một sự kết hợp giữa mặt tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, nó bao hàm một khả năng đặc biệt, bẩm sinh để cảm nhận và hành động tới cơ hội, kết hợp tư duy vượt trội với thương hiệu độc đáo bằng quyết tâm tạo ra hoặc mang lại một giá trị mới cho thế giới. Về mặt tiêu cực, ý tưởng kinh doanh là một thuật ngữ cũ, bởi vì các hoạt động kinh doanh đòi hỏi một quá trình trước khi tác động thực sự của chúng được chứng thực (Martin và Osberg, 2007). Theo Nafukho và cộng sự (2010), đối với một vài người, thuật ngữ “doanh nghiệp” và “khởi nghiệp” là một hoặc tương tự; trong khi đối với những người khác, hai thuật ngữ này tương đối khác biệt.
Về phương diện này, khởi nghiệp là một quá trình bùng nổ của tầm nhìn, đổi mới và sáng tạo (Kuratko và Hodgetts, 2004); giả thuyết doanh nghiệp là khả năng sử dụng nỗ lực có tổ chức để tạo ra giá trị trong trường hợp đó, việc tạo ra giá trị là khởi nghiệp. Vì thé, trong trường hợp này, doanh nghiệp và khởi nghiệp có khái niệm xen kẽ. Mặt khác, đối với nhóm người cho rằng hai thuật ngữ này là khác nhau, “doanh nghiệp là khái niệm liên quan đến các biện pháp khuyến khích các cá nhân trở thành doanh nhân và trang bị cho họ những ki năng cần thiết để tạo nên thành công cho doanh nghiệp. Về bản chất, doanh nghiệp là sự phát hiện ra các cơ hội, tạo những ý tưởng mới và có sự tự tin, khả năng để biến những ý tưởng này thành sự thật (Nixon, 2004).
Mặt khác, đối với một số người, doanh nghiệp là văn hóa khiến cho mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn; do đó, doanh nghiệp đi trước khởi nghiệp (Chitty, 2009). Ông lập luận rằng những cá nhân dám nghĩ dám làm và cộng đồng hiểu được vị trí hiện thời của họ có những ý tưởng tốt hơn. Ngoài ra, họ can đảm, tự tin, có kĩ năng, có tổ chức và hỗ trợ hành động để thu hẹp khoảng cách giữa vị trí hiện thời của họ với nơi mà họ muốn trở thành. Cụ thể hơn, khi các 14 cá nhân dám nghĩ dám làm thì khởi nghiệp sẽ nảy sinh.
Tóm lại, hai khái niệm tuy đan xen những vẫn có khoảng cách nhất định. Theo Reinert và Reinert (2006), trong thế kỷ 20, nhà kinh tế học có mối liên hệ chặt chẽ nhất với thuật ngữ này là Joseph Schumpeter. Ông mô tả các doanh nhân là những người đổi mới thúc đẩy quá trình “phá hủy sáng tạo” của chủ nghĩa tư bản. Ông cho rằng: “chức năng của các doanh nhân là cải cách hoặc cách mạng hóa mô hình sản xuất.” Họ có thể làm điều này bằng nhiều cách “bằng cách khai thác một phát minh hay khái quát hơn là một khả năng công nghệ chưa được thử nghiệm để sản xuất một mặt hàng mới hoặc sản xuất một mặt hàng cũ theo một cách mới, bằng cách mở ra một nguồn cung cấp nguyên liệu mới hoặc một cửa hàng mới cho các sản phẩm, bằng cách tổ chức lại một ngành công nghiệp và tương tự thế.” Các nhà khởi nghiệp của Schumpeter là những tác nhân thay đổi trong nền kinh tế.
Bằng cách phục vụ thị trường mới hoặc tạo ra cách thức mới để làm thực hiện mọi thứ, họ hiển nhiên dịch chuyển nền kinh tế. Quả thật nhiều doanh nhân mà Say và Schumpeter nhận thức đã hoạt động bằng cách bắt đầu các dự án kinh doanh mới, tìm kiếm lợi nhuận, nhưng bắt đầu kinh doanh không phải là bản chất của ý định khởi nghiệp. Mặc dù các nhà kinh tế khác có thể đã sử dụng thuật ngữ này với nhiều sắc thái, học thuyết Say-Schumpeter nhận định các nhà khởi nghiệp là chất xúc tác và các nhà đổi mới đằng sau sự tiến bộ kinh tế đã đóng vai trò là nền tảng cho việc sử dụng đương thời khái niệm này (Dees, 1998). Có thể dễ dàng nhận thấy, khái niệm “khởi nghiệp” có vô vàn cách hiểu và định nghĩa khác nhau; song, các nghiên cứu khoa học trên thế giới về khái niệm khởi nghiệp chung quy lại khởi nghiệp là hành động tạo dựng và làm chủ một doanh nghiệp mới.
Hệ sinh thái khởi nghiệp. Khái niệm “hệ sinh thái khởi nghiệp” là khái niệm còn quá mới mẻ với cộng đồng người Việt nói chung và các nhà kinh tế nói riêng, tuy nhiên nhìn nhận ở góc độ quốc tế thì thuật ngữ này lại không quá xa lạ. Trong tác phẩm “Predators and Prey: A new Ecology of Competition” của Moore (1993), ông đã đề cập đến khái niệm Hệ sinh thái kinh doanh bao 15 gồm 4 giai đoạn phát triển: Ra đời (Birth); Mở rộng (Expansion); Dẫn dắt (Leadership); Tự đổi mới (Self-Renewal). Trong đó giai đoạn “Ra đời” là giai đoạn đề cập đến các doanh nghiệp “khởi nghiệp” nghĩa là đang khởi tạo kinh doanh.
Các hình thức khởi nghiệp Trước hết, loại hình khởi nghiệp mà ta gọi là định hướng đổi mới ý định khởi nghiệp việc tạo ra các doanh nghiệp định hướng đổi mới sáng tạo (IDEs), nó theo đuổi những cơ hội toàn cầu dựa trên việc mang đến cho khách hàng những cải tiến mới có lợi thế cạnh tranh rõ ràng và tiềm năng tăng trưởng cao. Bằng việc đổi mới, tôi muốn nói đến những ý tưởng mới của thế giới trong mô hình kỹ thuật, thị trường hay mô hình kinh doanh. Khái niệm về sự tồn tại đổi mới thúc đẩy là vô cùng quan trọng vì nó nhấn mạnh vào nhận thức về nhu cầu của nhà khởi nghiệp để xây dựng lợi thế cạnh tranh, điều mà đối với một doanh nhân chỉ có thể thực hiện được bằng cách tận dụng các nguồn lực ngày này và làm một điều khác biệt với chúng. Theo Schumpeter (1934) gọi đó là “những sự kết hợp mới mẻ”, hay nói cách khác, tôi rất có ý thức không sử dụng thuật ngữ “Ý định khởi nghiệp dựa trên công nghệ” bởi sự đổi mới không bị giới hạn trong công nghệ.
Sự đổi mới có thể có nhiều loại bao gồm công nghệ, quy trình, mô hình kinh doanh và hơn thế nữa. Đối với các nghiên cứu khác, hướng tới mô hình doanh nghiệp nhỏ - các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), phục vụ thị trường địa phương truyền thống, hiểu rõ ý tưởng kinh doanh và có lợi thế cạnh tranh hạn chế. Thành công hay không còn tùy thuộc vào khả năng nhạy bén trong kinh doanh, khả năng quản lý dự án của nhà quản lý và nhu cầu địa phương hiện tại, nhưng không đối chiếu với các mặt của kỹ thuật, thị trường và rủi ro doanh nghiệp mà các nhà quản lý phải đối mặt. Điều đó đã tạo ra thách thức thực hiện cho IDEs thậm chí trở nên vĩ đại hơn (Aulet và Murray, 2013).
Theo Blank (2011), loại hình khởi nghiệp được chia làm sáu loại: Khởi nghiệp phong cách sống, khởi nghiệp kinh doanh nhỏ, khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng, khởi nghiệp theo hướng chuyển nhượng, khởi nghiệp công ty lớn, khởi nghiệp xã hội. 16 Khởi nghiệp phong cách sống - Làm việc với đam mê: Theo Blank (2011), những nhà khởi nghiệp thuộc nhóm này là những cá nhân sống và làm việc theo sở thích và đam mê; làm vì chính họ không vì ai khác, vừa làm việc vừa hưởng thụ cuộc sống. Ví dụ như tại thung lũng Sillicon, những người thiết kế web, nhà lập trình tự do làm việc, làm việc phần lớn để phục vụ đam mê, sở thích cá nhân hơn là lợi nhuận. Khởi nghiệp kinh doanh nhỏ - Làm việc để phục vụ gia đình: Đặc điểm của nhóm này là người sáng lập đồng thời là nhân công.
Các doanh nghiệp thuộc nhóm này là cửa hàng tạp hóa, cửa hàng đồ gia dụng, nhà tư vấn, đại lý du lịch, cửa hiệu làm tóc, cửa hàng cung cấp dịch vụ Internet, thợ mộc, thợ ống nước, thợ điện và tương tự như thế. Các nhà khởi nghiệp ở nhóm này có xu hướng thuê nhân công địa phương hay chính nguồn lực gia đình, hầu hết là không mang lợi nhuận hoặc không đáng kể. Doanh nghiệp kinh doanh nhỏ không phải để thay đổi, mở rộng quy mô mà mục đích của chủ sở hữu là quản lý doanh nghiệp của riêng họ và “nuôi sống gia đình”. Nguồn vốn duy nhất có sẵn là khoản tiền tiết kiệm tự thân, tiền gửi ngân hàng, các khoản vay kinh doanh nhỏ và khoản tiền vay từ gia đình, họ hàng.
Những nhà khởi nghiệp thuộc nhóm này là đại diện rõ nét nhất cho “Tinh thần khởi nghiệp” dù không trở thành tỉ phú hay xuất hiện trong các tạp chí về nhà khởi nghiệp giàu có. Khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng - Sinh ra để lớn mạnh: Minh chứng rõ nét nhất cho nhóm này là Twitter, Facebook, Google và Skype. Ngày từ đầu, nhà khởi nghiệp đã tin rằng tầm nhìn của họ có thể làm thế giới thay đổi. Mục tiêu của những nhà khởi nghiệp thuộc nhóm này còn chú trọng vào việc tạo ra tính công bằng trong bộ máy tổ chức, một doanh nghiệp có giá trị liên thành, tạo ra khoản lợi nhuận lên tới hàng triệu đô la.
Các doanh nghiệp này cần đến sự hỗ trợ từ những nhà đầu tư mạo hiểm nhằm mục đích tìm ra các mô hình. Họ thuê những người xuất chúng nhất để làm việc. Công việc của họ là tìm kiếm mô hình kinh doanh có tính chu kì và mở rộng. Một khi tìm thấy nó, việc tập trung vào quy mô đòi hỏi nhiều vốn đầu tư mạo hiểm để thúc đẩy sự phát triển.
Các doanh nghiệp này có xu hướng tập trung thành cụm. Bên cạnh đó, nguyên tắc rủi ro tương đương với lợi nhuận của loại hình khởi nghiệp này thu hút các nguồn vốn mạo hiểm. 17 Khởi nghiệp theo hướng chuyển nhượng - Sinh ra để dịch chuyển: Cụ thể cho loại hình này việc Instagram nhượng lại cho Facebook. Các ứng dụng trình duyệt web và di động phát triển và việc chuyển nhượng trở nên hết sức thông thường.
Lợi thế của các doanh nghiệp thuộc nhóm nay là giảm được chi phí cần thiết để xây dựng một sản phẩm, giảm triệt để được thời gian đưa sản phẩm ra thị trường và có bệ đỡ.