MỞ ĐẦU Chương | sẽ trình bày các van đê vê: Giới thiệu vê thuê ngoài, xác định van đê nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiên của dé tài và bồ cục luận văn.1 Giới thiệu về thuê ngoài Thuê ngoài (Outsourcing) là một thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế. Nó là việc một thé nhân hay pháp nhân chuyền giao việc thực hiện toàn bộ một chức năng sản xuất - kinh doanh nao đó, bao gồm cả tài sản vật chất và nhân lực cho một nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài chuyên môn hóa trong lĩnh vực đó, gọi là nhà thầu phụ. Dịch vụ có thé được cung cấp bên trong hay bên ngoài công ty khách hàng: có thé thuộc nước sở tại hoặc ở nước ngoài. Các chuyển giao như vậy nhằm mục đích hạ giá thành và nâng cao tính cạnh tranh.
Nó khác với việc mua bán sản phẩm từ nhà cung cấp ở chỗ giữa hai bên có sự trao đổi thông tin để quản lý việc sản xuất-kinh doanh đó, tức là có sự hợp tác trong sản xuất. Thuê ngoài gần giống với chuyên ra ngoài khi thể nhân hay pháp nhân thuê mướn nhà thầu phụ tại nước ngoài, nhưng khác khi họ chỉ thuê mướn nhà thâu phụ trong cùng quốc gia hoặc khác ở chỗ thuê ngoài luôn là thuê mướn nhà thầu phụ không thuộc về pháp nhân đó, trong khi chuyển ra ngoài có thể chỉ là việc chuyển giao công việc cho chi nhánh của chính pháp nhân đó tại nước ngoài. ( theo https://vi.org ) Outsourcing là hình thức chuyển một phan chức năng nhiệm vụ của công ty ra gia công bên ngoài (từ tiếng Anh: out - ngoài, source — nguồn) — những chức năng mà trước đây doanh nghiệp van đảm nhận. (Theo “ Thời của Outsource”, tạp chi nhịp cầu đầu tư (2011) HVTH: Pham Kim Dũng 1 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.
Nguyễn Thống Cùng với outsource còn có hai khái niệm nữa thường được su dụng là offshoring và contracting. Sự khác biệt được so sánh như sau (http://svnckh.vn) Đặc điểm Outsource Offshoring Contracting Bên nhận outsource là „ Bên nhận outsource cũng là chi Môi quan hệ giữa | một công ty khác, độc nhánh của chính pháp nhân bên các bên lập hoàn toàn với công giao outsource ty giao outsource Bén nhan Bén nhan Bên nhận outsource là outsource là outsource là công Phạm vi địa lý | công ty trong hoặc ngoài ; công ty nước ty trong nước nước ngoài Bang 1.1 Các hình thức thuê ngoài trên thé giới Trong nội dung nghiên cứu chỉ xem xét hai khái niệm Outsource, Offshoring và gọi chung là thuê ngoài (Outsourcing). Cũng theo tạp chí nhịp cau dau tư (2011) lợi ích của Outsourcing bao gồm 3 tiêu chí chính: Tiết kiệm chi phí, tiết kiệm chỗ ngôi làm việc, tiết kiệm thời gian và đảm bảo chất lượng. Tiết kiệm chi phí: Chi phí cho dịch vụ Outsourcing thường thấp hơn so với chi phí xây dựng một cơ cấu làm việc trong doanh nghiệp.
Bạn sẽ phải trả thêm khoản thuế thu nhập cá nhân cho nhân viên, đó là chưa kế các khoản tiền đóng bảo hiểmy tế, bảo hiểm xã hội. Tiết kiệm chỗ ngồi làm việc: Việc tạo dựng cơ cầu tổ chức nhân sự làm việc toàn phần trong doanh nghiệp đòi hỏi bạn phải có đủ diện tích văn phòng, các trang thiết bị làm việc (bàn ghế, máy tính, máy Fax, văn phòng phẩm, nước uống.) Đảm bảo công việc luôn được vận hành. Nhân viên làm việc toàn thời gian của bạn có quyên lợi nghỉ phép, nghỉ ốm, trong khi bạn cần đảm bảo khối lượng công việc được liên thông. Bên nhận dịch vụ Outsourcing của bạn đảm bảo công việc luôn luôn được vận hành.
HVTH: Pham Kim Dũng 2 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Nguyễn Thống Tiết kiệm thời gian và đảm bảo chất lượng: Hình thức gia công bên ngoài giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều thời gian đồng thời đảm bảo chất lượng. Ngoài ra, trong một cuốn sách mới nhất của mình có tựa đề “Quản lý xã hội kế tiếp” (Managing in The Next Society; NXB Truman Talley Books, 2002), cố tác giả Peter Drucker cho rang, trong thời gian tới, đại da số các doanh nghiệp sẽ phải đón nhận tình huống khi 40% nhân viên của họ sẽ làm việc theo hình thức không thường xuyên. (Theo “ Thời của Outsource”, tạp chí nhịp cầu dau tư (2011) Thêm nữa, xu hướng Payroll Outsourcing — xu hướng đang gia tăng tại Việt Nam.
Vào giữa thập niên 90, hình thức Payroll Outsourcing xuất hiện tại các công ty, tập đoàn đa quốc gia và sau đó lan rộng ra tới các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ. Nếu như trước đây, các doanh nghiệp nước ngoài thích sử dụng dịch vụ này của các ngân hàng thì bây giờ, các doanh nghiệp đã chuyền sang sử dụng dịch vụ của các công ty săn đầu người hoặc tư vẫn nhân sự. (Neudn:http://text.org/document/1252592-de-tai-outsourcing-va-thuc- trang-gia-cong-xuat-khau-phan-mem-cua-viet-nam-pptx.htm) Bởi những lý do trên ma Outsourcing dang được xem là một thi trường toàn cau, nơi cả người cung cấp dịch vụ và những bên sử dụng dịch vụ không can quan tâm tới biên giới quốc gia. Khi Outsourcing phát triển và được sử dụng rộng rãi bởi các tô chức trên toàn cau, càng có nhiều người xem Outsourcing “Là một trong những công cụ mạnh nhất hiện nay để xây dựng công ty tốt hơn và nên kinh tế tốt hon” - phát biểu của chủ tịch IAOP (International Association of Outsourcing Professionals), Ông Michael Corbett.
Từ những lý do trên và nhờ các cơ chế chính sách của Nhà nước thay đổi linh hoạt và nhanh chóng dé thích nghi với tình hình mới, mà từ năm 2000 trở lại đây Việt Nam trở thành điểm đến lý tưởng cho các nước phát triển trong hoạt động Outsourcing. Thế nên trong lĩnh vực xây dựng, Outsourcing trong xây dựng Việt Nam cũng bắt đầu phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của nhiều công ty công ty thuê ngoài trong lĩnh vực xây dựng như: Gouvis engineering (1999), Ddarchitects (1969), Truss-rite VN (2006), Atlas Industries VN (2000), Simpson Strong-tie Việt Nam (2012) ,Global platinium (2010), Zamil Steel (1993). HVTH: Pham Kim Ding 3 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Nguyễn Thống Dựa vào những thông tin trên có thé thay tiềm năng phát triển và lớn mạnh của Outsourcing tại Việt Nam nói chung, và Ousourcing trong Xây Dung nói riêng trong thời gian tới.2 Xác định van đề nghiên cứu Việt Nam được coi là điểm phát triển Outsourcing hấp dẫn bởi những lợi thế như : Lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công thấp , trình độ ngoại ngữ cao, trình độ chuyên môn cao.
Ngoài ra Việt Nam còn dành nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư lớn. (Theo “ Thời của Outsource’, tap chí nhịp cầu đầu tư 2011 ) Theo Dương Phúc Lộc (2010), chỉ ra rằng Việt Nam là một trong những quốc giá có tiêm năng lớn trong lĩnh vực thuê ngoài, cụ thé qua các lợi thé như: Chế độ chính trị, lực lượng lao động déi dào. Chế độ chính trị: Việt Nam có chế độ chính trị 6n định, ngoài ra Việt Nam còn đang từng bước chuyền đổi kinh tế cũng như dan cải thiện hệ thông pháp luật nhằm đáp ứng với nhu câu thế giới, do vậy các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư vào Việt Nam. Lực lượng lao động dồi dào: Dân số Việt Nam khoảng 90 triệu người, hơn 60% dân số dưới 30 tuổi, Lực lượng lao động tại Việt Nam là lao động trẻ, có trình độ cao và luôn không ngừng học hỏi, phát triển bản thân.
Tại Việt Nam mỗi năm có khoảng 20.000 kỹ sư tốt nghiệp tại các trường đại học trong cả nước. Ngoài ra, tác giả Dương Phúc Lộc còn cho biết ngoài lực lượng lao động déi dào, có trình độ thì tác giả Dương Phúc Lộc dẫn lời ông Joseph Woolf (Giám đốc điều hành và là thành viên sáng lập ra công ty Atlas Industries) cho biết ông chọn Việt Nam chứ không phải An Độ là vì: “Nhân viên người Việt trung thực hon và ít có xu hướng thay đối việc làm hay tìm việc làm tại nước ngoài. Đây là hai van đề lớn mà một số công ty đã gặp phải tại Ấn Độ”, thêm vào đó là yếu tố thu hút đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là giá nhân công tại Việt Nam cũng rẻ hơn so với các nước trong khu vực. Từ những lý do trên có thể thấy được những lợi thế của Việt Nam trong ngành Outsource như tình hình 6n định của chính trị, nhân công đồi dào và giá rẻ là những điều đang thực sự hấp dẫn các công ty lớn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Nhận HVTH: Pham Kim Dũng 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Nguyễn Thống xét nay cũng cho thay su tuong đồng khi theo Josh Lieberman (Hiện là chủ tịch KMS Technology, có kinh nghiệm làm việc tại Việt Nam hơn 20 năm) cho biết : “Ông không ngạc nhiên khi Việt Nam được coi là điểm thay thé Trung Quốc và An Độ trong lĩnh vực dịch vụ thuê ngoài, trong bối cảnh chi phí gia tăng và ty lệ nghỉ việc tại những nước nảy đều ở mức cao”. Ông còn cho biết thêm “ Việt Nam lần đầu nhận được đánh giá "tốt" từ hãng nghiên cứu Gartner năm 2010, khi được chọn vào tốp 30 quốc gia cho dịch vụ tại nước ngoài. Đánh giá này đang cải thiện khi ngành công nghiệp tại đây dan phát triển, sinh viên mới ra trường tăng, dau tư nước ngoài và hãng khởi nghiệp cũng nhiều lên.
Một báo cáo của Gartner hồi tháng | năm 2015 đã coi Việt Nam là điểm đến tốp đầu trong nhóm quốc gia mới nổi, bên cạnh Trung Quốc và An Độ.” (Theo “Việt Nam - miễn đất hứa của dịch vụ outsourcing”, vnexpress.net (2015) ) (Nguon-http://kinhdoanh.net/tin-tuc/doanh-nghiep/viet-nam-mien-dat- hua-cua-dich-vu-outsourcing-3178272.html ) Ong Josh Lieberman cũng cho biét thém: “Tir hoat dong tai An Độ, Lieberman nhận thay kỹ năng IT hiện đại của lao động Việt Nam đã bang, và trong một số trường hợp còn vượt quốc gia Nam A. Khả năng ngoại ngữ của Việt Nam cũng xuất sac. Các trường học đang chú trọng dạy tiếng Anh và hiểu rõ thành thạo ngôn ngữ này sẽ cho phép tiễn xa trong lĩnh vực”, đồng thời ông còn cho biết thêm: “Văn hóa làm việc tại Việt Nam cũng rất coi trọng sự trung thành. Ông nhận thay sự cam kết, tính tập trung va lòng trung thành tại day ngày càng mạnh.
Ty lệ nghỉ việc cũng chỉ khoảng 6-8%. Trong khi đó, con số này tại An Độ là 20%”. Việc duy trì ty lệ nghỉ việc thấp này cũng là do không chỉ các yếu tố bên ngoài, mà trong doanh nghiệp cần tạo môi trường văn hóa hấp dẫn từ bên trong như: Các công ty đảm bảo cơ hội phát triển cho nhân viên thông qua tập huấn, có chính sách thăng chức rõ ràng và khuyến khích các hoạt động xã hội như tiệc cuối tuần hay đi chơi tập thể.