Chương 1 nhằm giới thiệu tổng quát các vấn đề nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các tài liệu lược khảo trong bài nghiên cứu cũng như phương pháp tiến hành nghiên cứu. Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày những nét mới mà luận văn nghiên cứu. Ngoài ra việc thiết kế các chương trong phần bố cục của đề tài giúp luận văn có cái nhìn tổng thể khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, tạo cho người đọc dễ dàng tiếp cận luận văn. 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm về sự gắn kết Có nhiều quan niệm về sự gắn kết nói chung và gắn kết với công việc nói riêng. Mowday và ctg (1979) cho rằng: “Sự gắn kết với tổ chức là sức mạnh tương đối về sự đồng nhất của nhân viên với tổ chức và sự tham gia tích cực của nhân viên trong một tổ chức nhất định”. Khái niệm này đề cập đến vai trò của sự gắn kết đối với tổ chức. Theo tác giả, sự gắn kết là một nguồn lực vô hình của tổ chức có thể tạo ra sự đồng nhất và sự tham gia của nhân viên.
Khác với Mowday và ctg (1979), Robinson và ctg (2003) xem xét sự gắn kết xuất phát từ thái độ của người lao động. Đó là "một thái độ tích cực của người lao động theo hướng có tổ chức và giá trị của người lao động nhận được khi làm việc và làm việc với các đồng nghiệp để cải thiện hiệu suất trong công việc vì lợi ích chung của tổ chức. Các doanh nghiệp để phát triển và duy trì cần người lao động, vì vậy một mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp và người lao động được thiết lập, đó là sự gắn bó”. Trong khi đó Tổ chức Gallup (2009) nhấn mạnh đến sự thỏa mãn khi đề cập đến khái niệm gắn kết với công việc “mỗi cá nhân tham gia và thỏa mãn với nơi làm việc như họ cảm nhận”.
Armstrong (2011) cho rằng gắn kết là tình trạng mà nhân viên hoà nhập với tổ chức hoạt động vì tổ chức và không muốn rời khỏi tổ chức; đó là “tình trạng của nhân viên với công việc, với tổ chức và được thúc đẩy để đạt thành tích cao. Những người gắn bó năng động, quan tâm, hào hứng và chuẩn bị những nổ lực cho thực hiện công việc. Những người gắn bó sẽ chủ động tham gia và thực hiện theo cách họ liên kết với mục tiêu tổ chức”. Theo tổ chức tư vấn Gallup (2004), chia nhân viên thành 3 nhóm: (1) Nhóm nhân viên gắn kết với công việc: là người có tinh thần xây dựng.
Họ muốn biết kết quả mong đợi trong vai trò của họ để họ có thể đạt được và gặt hái kết quả vượt trên cả sự mong đợi đó. Họ quan tâm một cách tự nhiên đến tổ chức và vai trò của họ ở tổ chức. Hiệu quả làm việc luôn ở mức cao, làm việc với sự đam mê, muốn sử dụng tài năng và điểm mạnh của mình vào công việc mỗi ngày. Họ hướng đến sự đổi mới và giúp cho tổ chức của họ phát triển.
(2) Nhóm nhân viên không gắn kết với công việc: là người có xu hướng tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể nhiều hơn so với mục tiêu và kết quả mong đợi trong vai trò của họ. Họ muốn được chỉ bảo, 12 hướng dẫn cụ thể những việc cần phải làm và tập trung vào hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể, chứ không phải việc gặt hái được kết quả mong muốn. Họ có xu hướng cảm thấy sự đóng góp của mình bị bỏ qua và tiềm năng của mình không được biết đến vì không có mối quan hệ tốt với quản lý và đồng nghiệp của mình. (3) Nhóm thứ ba là những nhân viên chủ động không gắn kết với công việc: là người “ly khai”.
Họ hầu như nhất quyết chống đối lại mọi thứ của tổ chức, không chỉ không cảm thấy hạnh phúc tại nơi làm việc mà còn luôn thể hiện thái độ không hạnh phúc của mình. Mỗi ngày, họ đều tìm cách ngầm phá hoại những thành công của những đồng nghiệp. Lý thuyết của Maslow về sự phát triển cá nhân và động lực được công bố vào năm 1943. Theo Maslow, hành vi của con người bắt nguồn từ mong muốn thỏa mãn các nhu cầu cá nhân.
Nhu cầu của con người được chia thành 5 bậc từ thấp (cấp thiết nhất) đến cao (ít cấp thiết), bao gồm: nhu cầu sinh học – nhu cầu an toàn – nhu cầu xã hội – nhu cầu được tôn trọng – nhu cầu tự thể hiện bản thân. Tháp nhu cầu của Maslow được xây dựng dựa trên các giả định sau: (1) Nhu cầu chính là cơ sở hình thành nên động cơ thôi thúc con người hành động. Con người cố gắng thỏa mãn trước hết là những nhu cầu quan trọng nhất. Tuy nhiên, khi một nhu cầu đã được thỏa mãn thì nó không còn là động cơ hiện thời nữa, và người ta lại cố gắng tìm cách thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo.
(2) Nhu cầu bậc cao chỉ xuất hiện khi nhu cầu ở bậc thấp hơn đã được thỏa mãn. Chẳng hạn, khi một người sắp chết vì đói thì họ mong muốn tìm cách thỏa mãn nhu cầu sinh lý, giải quyết trước hết vấn đề đói. 13 Nhu cầu sinh học Hình 2.1 Tháp nhu cầu về sự phát triển cá nhân Nguồn: Maslow (1943) Theo (J. Stacy Adam, 1965, trích bởi Nguyễn Thị Hương, 2015) khi xây dựng học thuyết công bằng phát biểu rằng người lao động so sánh những gì họ bỏ vào một công việc (đầu vào) với những gì họ nhận được từ công việc đó (đầu ra) và sau đó đối chiếu tỷ suất đầu vào – đầu ra của họ với tỷ suất đầu vào – đầu ra của những người khác.
Nếu tỷ suất của họ là ngang bằng với tỷ suất của những người khác, thì người ta cho rằng đang tồn tại một tình trạng công bằng. Nếu như tỷ suất này là không ngang bằng, thì họ cho rằng đang tồn tại một tình trạng bất công. Khi tồn tại những điều kiện bất công, các nhân viên sẽ nỗ lực để hiệu chỉnh chúng. Học thuyết công bằng ngụ ý rằng khi các nhân viên hình dung ra sự bất công, họ có thể có một hoặc một số trong năm khả năng lựa chọn sau đây (1) làm méo mó các đầu vào hay đầu ra của chính bản thân mình hay của những người khác; (2) cư xử theo một cách nào đó để làm cho những người khác thay đổi các đầu vào hay đầu ra của họ; (3) cư xử theo một cách nào đó để làm thay đổi các đầu vào hay đầu ra của chính bản thân họ; (4) chọn một tiêu chí đối chiếu khác để so sánh và (5) bỏ việc.
Học thuyết công bằng thừa nhận rằng các cá nhân không chỉ quan tâm tới khối lượng phần thưởng tuyệt đối mà họ nhận được cho nỗ lực của mình, mà còn tới cả mối quan hệ giữa khối lượng đó với những gì những người khác nhận được. Các đầu vào, như nỗ 14 lực, kinh nghiệm, trình độ giáo dục và tài năng được đem so sánh với những đầu ra như mức lương, tăng lương, sự công nhận và các yếu tố khác. Khi mọi người nhận thức là có sự chênh lệch trong tỷ suất đầu vào – đầu ra của họ so với những người khác, nhất định sẽ có sự căng thẳng. Sự căng thẳng này tạo cơ sở cho động lực, khi mà mọi người phấn đấu để giành được cái mà họ coi là công bằng và thỏa đáng.2 Khung lý thuyết theo tiếp cận của J.
Stacy Adam (1965) Nguồn: Nguyễn Thị Hương (2015) Gambrel và Cianci (2003), cho rằng lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow là một trong những mô hình về động lực làm việc của con người được nhắc đến và thảo luận nhiều nhất trong những thập kỷ qua. Cũng giống như các lý thuyết về động lực làm việc nổi tiếng khác, mô hình của Maslow đã được phát triển dựa trên nền tảng nghiên cứu các doanh nghiệp ở Hoa Kỳ. Re’em (2010) đã thực hiện nghiên cứu “Tạo động lực thúc đẩy nhân viên ở khu vực công: các công cụ ứng dụng trong thực tiễn” nhằm hướng đến việc tìm ra các nhân tố lý thuyết và các chiến thuật có thể áp dụng trong thực tế, từ đó giúp nhà quản lý khu vực công tạo ra nhiều động lực làm việc hơn cho nhân viên của họ. Bởi vì động lực làm việc đóng vai trò quan trọng đối với kết quả công việc của người lao động.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phân tích tổng hợp theo hướng ứng dụng thông qua việc lược khảo các tài liệu về động lực làm việc ở cả khu vực công và khu vực tư. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý ở khu vực công và dựa trên kinh nghiệm thực tế của chính tác giả nhằm đề xuất các chiến thuật thích hợp cho khu vực công. Kết quả nghiên cứu cho thấy có ít nhất 14 nhân tố để khuyến khích người 15 lao động làm việc tốt hơn, bao gồm: các phần thưởng; sự thừa nhận; sự tự chủ; sự thăng tiến; sự công bằng; cơ hội được học tập,. Đi cùng với 14 nhân tố này là 46 chiến thuật cụ thể phù hợp với nội dung của từng nhân tố.
Chẳng hạn, nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhà quản lý có thể áp dụng các chiến thuật như trao quyền cho nhân viên, hay để nhân viên tự quyết định sẽ thực hiện công việc của mình bằng cách nào nhằm làm tăng sự tự chủ của nhân viên. Mặt khác, do động lực làm việc là vấn đề của mỗi cá nhân, vì vậy tác giả đã khuyến nghị nhà quản lý cần sử dụng các chiến thuật một cách thận trọng, phù hợp với từng hoàn cảnh và từng cá nhân. Denibutun (2012) thực hiện nghiên cứu “Động lực làm việc: khung lý thuyết” khẳng định trên thế giới đã có khá nhiều các học thuyết khác nhau hướng đến việc nỗ lực giải thích bản chất của động lực làm việc. Các lý thuyết về động lực giúp giải thích hành vi của một người nhất định tại một thời điểm nhất định.