Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Giới thiệu khái quát về sự cần thiết nghiên cứu của đề tài, nêu lên mục tiêu 3 chung, mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cở sở lý thuyết và Mô hình nghiên cứu Trong chương này, trình bày các định nghĩa, lý thuyết về “Sự gắn kết với tổ chức”, những nhân tố ảnh hưởng và tác động đến sự gắn kết đối với các tổ chức, mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày thiết kế nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích số liệu, phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày giới thiệu về Cục Hải quan thành phố Cần Thơ, đánh giá thực trạng “Sự gắn kết với tổ chức” của công chức ở Cục Hải quan thành phố Cần Thơ.
Trên cơ sở đó, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết với tổ chức của công chức ở Cục Hải quan thành phố Cần Thơ. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương này trình bày kết luận và hàm ý quản trị góp phần nâng cao sự gắn kết với tổ chức của công chức ở Cục Hải quan thành phố Cần Thơ. 4 CHƯƠNG 2 CƠ S LÝ THUY T VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày tổng quan về khái niệm, các lý thuyết về “Sự gắn kết với tổ chức” của công chức. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm ở Cục Hải quan thành phố Cần Thơ.1 Các khái niệm nghiên cứu 2.1 Khái niệm về sự gắn kết với tổ chức Sự gắn kết là ý định gắn kết lâu dài với tổ chức.
Bởi sự gắn kết của mỗi cá nhân không chỉ đơn giản là vấn đề của cá nhân mà đó là một mắt xích trong chuỗi làm việc tận tâm cống hiến nhằm đạt mục tiêu tổ chức đề ra. Đến nay, có rất nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu trong việc định nghĩa sự gắn kết của nhân viên với tổ chức. Theo Porter và cộng sự (1974), gắn kết với tổ chức là niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận các mục tiêu của tổ chức, sẵn sàng nỗ lực hết mình vì tổ chức và mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức. Theo Dubin và cộng sự (1975), sự gắn kết với tổ chức là sự sẵn sàng ở lại với tư cách là một thành viên của tổ chức, sẵn sàng nỗ lực vì tổ chức và ủng hộ mục tiêu, giá trị của tổ chức.
Với Steers (1977), sự gắn kết với tổ chức cho thấy “mong muốn thực hiện nỗ lực lớn vì lợi ích của tổ chức” và “mong muốn duy trì một mối quan hệ tốt và là thành viên chặt chẽ của tổ chức”. Ở góc độ tiếp cận khác, Mowday và cộng sự (1982) định nghĩa gắn kết với tổ chức là sức mạnh tương đối về sự đồng nhất của một cá nhân với sự tham gia vào một tổ chức cụ thể. Về mặt khái niệm, sự gắn kết với tổ chức gồm có ba yếu tố, đó là: niềm tin mạnh mẽ, chấp nhận những mục tiêu và các giá trị của tổ chức, sự sẵn lòng nỗ lực vì tổ chức và mong muốn duy trì tư cách là thành viên của tổ chức. Theo Bateman và Strasser (1984), gắn kết với tổ chức là mối quan hệ đa chiều trong tự nhiên, liên quan đến lòng trung thành của nhân viên đối với tổ chức, sẵn sàng nỗ lực vì tổ chức, mức độ mục tiêu và giá trị hợp thức với tổ chức, và mong muốn duy trì với tổ chức.
Theo O’Reilly và cộng sự (1986), sự gắn kết với tổ chức là lời hứa của cá nhân với tổ chức bao gồm ý thức về gắn kết với công việc, lòng trung thành và niềm tin vào các giá trị của tổ chức. 5 Ngoài ra, theo Meyer và Allen (1997) cho rằng gắn kết với tổ chức là ở lại với tổ chức, tham gia công việc thường xuyên, nỗ lực làm việc mỗi ngày, bảo vệ tài sản của tổ chức và tin vào mục tiêu của tổ chức. Theo Zangaro (2001), sự gắn kết với tổ chức là lời hứa và cam kết của nhân viên về trách nhiệm trong tương lai đối với tổ chức. Với Cohen (2007), sự gắn kết với tổ chức là lòng trung thành của nhân viên với tổ chức, sẵn sàng nỗ lực hết mình vì mục tiêu, giá trị của tổ chức và mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức.
Theo Macey và Schneider (2008), cho rằng sự gắn kết với tổ chức là sự sẵn sàng làm việc tích cực vì tổ chức, cảm thấy tự hào là một thành viên của tổ chức và có sự gắn bó chặt chẽ với tổ chức. Như vậy, sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là trạng thái tâm lý thể hiện sự gắn kết của một cá nhân với một tổ chức, với nghề nghiệp; đó là lòng trung thành và sự nhiệt tình làm việc của nhân viên đối với tổ chức; đó là sự sẵn sàng nỗ lực hết mình vì tổ chức, luôn đặt lợi ích của tổ chức lên trên lợi ích của bản thân mình. Những cá nhân có mức độ gắn kết với tổ chức càng cao sẽ càng hài lòng với công việc của họ, sẽ ít nghĩ đến việc rời bỏ và gắn kết với tổ chức khác.2 Các thành phần của sự gắn kết với tổ chức Sự gắn kết với tổ chức đã được định nghĩa và được đo lường bằng nhiều thang đo khác nhau. Mowday và cộng sự (1979), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: (i) Sự đồng thuận (Identification): Mục tiêu cá nhân trùng với mục tiêu tổ chức, có niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu và giá trị của tổ chức; (ii) Lòng trung thành (Loyalty): Mong muốn một cách mạnh mẽ duy trì vai trò thành viên của tổchức; (iii) Sự lôi cuốn (Involvement): Bị lôi cuốn vào các hoạt động của tổ chức và luôn cố gắng tự nguyện vì tổ chức.
Angle và Perry (1981), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi hai thành phần: (i) Gắn kết giá trị (Value commitment): Sự gắn kết để phục vụ cho mục tiêu của tổ chức; (ii) Gắn kết duy trì (Commitment to stay): Sự cam kết để duy trì vai trò thành viên của họ trong tổ chức. O’Reilly và cộng sự (1986), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: (i) Sự tuân thủ (Compliance): Sự lôi cuốn vì những phần thưởng đặc biệt; (ii) Sự đồng thuận (Identification): Sự gắn kết vì mong muốn hội nhập với tổ chức; (iii) Sự tiếp thu (Internalisation): Sự lôi cuốn do có sự phù hợp, sự tương đồng giữa giá trị của cá nhân với giá trị của tổ chức. Penley và Gould (1988), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: (i) Đạo đức (Moral): Sự chấp nhận và đồng thuận với mục tiêu của tổ chức; (ii) Tính toán (Calculative): Sự đồng thuận với tổ chức vì nhân viên cảm thấy hài lòng với 6 sự khích lệ vật chất khi có những đóng góp cho tổ chức; (iii) Thờ ơ (Alienative): Nhân viên ở lại tổ chức chỉ vì áp lực của môi trường, dù họ nhận thấy những gì họ nhận được không còn tương xứng với công sức. Meyer và Allen (1991) đề xuất ba thành phần gắn kết với tổ chức: (i) Gắn kết vì tình cảm (Affective commitment): Đề cập đến sự gắn kết tình cảm, sự gắn kết chặt chẽ và dồn hết tâm trí vào trong tổ chức của nhân viên; (ii) Gắn kết do bắt buộc (Continuance commitment): Gắn kết do người nhân viên nhận thấy chi phí phải trả cao (chi phí cơ hội) khi phải rời bỏ tổ chức; (iii) Gắn kết vì quy chuẩn (Normative commitment): Phản ánh gắn kết dựa trên nghĩa vụ của nhân viên đối với tổ chức.
Mayer và Schoorman (1992), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi hai thành phần: (i) Giá trị (Value): Niềm tin và sự chấp nhận các mục tiêu, giá trị của tổ chức và sự sẵn sàng nỗ lực cho tổ chức; (ii) Sự duy trì (continuance): mong muốn duy trì vai trò thành viên của tổ chức. Jaros và cộng sự (1993), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: (i) Sự duy trì (Continuance): Mức độ mà một cá nhân cảm thấy họ phải gắn kết với tổ chức vì họ sẽ mất nhiều hơn so với có nếu họ rời khỏi tổ chức; (ii) Yêu mến (Affective): Mức độ mà một cá nhân gắn kết về mặt tâm lý thông qua những cảm giác như lòng trung thành, cảm thấy yêu mến tổ chức, hài lòng với tổ chức, nhiệt tình vì tổ chức và cảm thấy mình thuộc về tổ chức; (iii) Đạo đức (Moral): Mức độ mà một cá nhân gắn kết về mặt tâm lý với tổ chức thông qua mục tiêu, giá trị, tầm nhìn và sứ mệnh của tổ chức. Thế nhưng, định nghĩa của Meyer và Allen (1991) được chấp nhận và sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu hiện nay, có ba dạng gắn kết “ tình cảm”, “ bắt buộc”, và “ quy chuẩn”. Tuy nhiên, trong nghiên cứu phân tích tổng hợp các tiền đề, tương quan và kết quả của ba thành phần gắn kết “Gắn kết vì tình cảm”, “Gắn kết do bắt buộc” và “Gắn kết vì quy chuẩn”, Meyer và Allen (1991) đã phát hiện ra rằng ba thành phần gắn kết này có liên quan với nhau và liên quan với mức độ không đồng đều.
Trong đó, “Gắn kết vì tình cảm” có mối tương quan mạnh nhất và phù hợp nhất đến các vấn đề liên quan của tổ chức (sự tham gia, kết quả kinh doanh, hành vi của nhân viên trong tổ chức). “Gắn kết do quy chuẩn” cũng có mối tương quan nhưng không cao và “Gắn kết do bắt buộc” hầu như không liên quan (Hà Nam Khánh Giao và Bùi Nhất Vương, 2016).3 Tầm quan trọng của việc duy trì sự gắn kết của nhân viên Các nhà lãnh đạo luôn luôn mong muốn tổ chức mình ổn định về mặt nguồn lực cũng như có được những vị trí chủ chốt, toàn tâm toàn lực theo đuổi mục tiêu chung của tổ chức. Khi một tổ chức gặp khó khăn nhân viên thường có xu hướng bỏ đi tìm đối tác mới, nơi làm việc mới. Vậy phải làm thế nào để giữ chân họ, khiến họ khôngra 7 đi vì luôn sẵn lòng gắn kết với tổ chức.
Khi nhân viên trung thành luôn gắn kết ở bên cạnh bạn, công việc và sự tăng lợi nhuận diễn ra rất dễ dàng. Chúng ta đang đối mặt với một vấn đề hết sức nghiêm trọng là thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao (Tracy, 2007).