Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài với các nội dung như tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài, các đóng góp chính của đề tài và kết cấu của đề tài. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về Sự gắn kết Theo Mowday và Steer (1979) thì sự gắn kết của người lao động với tổ chức được hiểu như là sự đồng nhất của người lao động với tổ chức và sự tham gia nổ lực của người lao động trong một tổ chức cụ thể. Theo đó, sự gắn kết đó bao gồm: sự đồng nhất, sự nổ lực và sự trung thành. Sự gắn kết của người lao động đối với tổ chức còn được hiểu là một cảm giác buộc chặt cá nhân người lao động đối với tổ chức, mong muốn hay quyết định có tiếp tục là thành viên của tổ chức hay không (Allen và Mayer, 1990).
Sự gắn kết của người lao động là việc khai thác bản thân cho các vai trò công việc của họ. Trong sự gắn kết, người lao động thể hiện bản thân về thể chất, nhận thức và cảm xúc trong công việc (Kahn, 1990). Người lao động sẽ gắn kết cao với tổ chức khi họ được đáp ứng ba vấn đề: họ cảm thấy tâm lý an toàn khi có sự hiện diện của người khác, họ có đủ nguồn lực cá nhân để cống hiến cho tổ chức, công việc của họ có đủ ý nghĩa và việc đầu tư cho cá nhân được coi là đáng giá. Guest (1995) khẳng định, hành vi gắn kết của nhân viên đóng vai trò trọng tâm trong hoạt động QTNNL và là đặc điểm mấu chốt giúp phân biệt giữa QTNNL và quản trị nhân sự truyền thống.
Sự phục tùng được duy trì bởi hệ thống kiểm soát áp đặt dẫn tới sự phản ứng hơn là các hành vi phản hồi tích cực và chủ động trong công việc. Ngược lại, sự gắn kết được xây dựng trên niềm tin và một môi trường làm việc tin cậy lẫn nhau. Đồng quan điểm, Legge (1995) cho rằng sự gắn kết của nhân viên hoàn toàn khác biệt với hành vi phục tùng một cách nhẫn nhục được xem là đặc trưng của quản trị nhân sự truyền thống. Theo Burkingham và Coffman (1999) thì việc tạo ra sự gắn kết của người lao động đối với tổ chức sẽ làm tăng năng suất, lợi nhuận của doanh nghiệp và giúp giữ chân người lao động đối với tổ chức, mang lại sự thành công hơn cho tổ chức.
Mức độ gắn kết gia tăng sẽ làm tăng mức độ cam kết làm việc của người lao động đối với tổ chức càng tốt hơn. Điều này còn ảnh hưởng nhiều đến việc tăng cường mức độ 5 thỏa mãn, hài lòng của người lao động trong công việc, giúp nâng cao hiệu suất làm việc, cải thiện sức khỏe và tạo tâm lý an toàn hơn của người lao động khi làm việc tại tổ chức.2 Các học thuyết liên quan đến sự gắn kết của người lao động đối với tổ chức Thuyết công bằng của Adam (1963) Stacey Adams cho rằng nhân viên có xu hướng đánh giá sự công bằng bằng cách so sánh công sức họ bỏ ra so với những thứ họ nhận được cũng như so sánh tỷ lệ đó của họ với tỷ lệ đó của những đồng nghiệp trong Công ty. Nếu kết quả của sự so sánh đó là sự ngang bằng nhau tức công bằng thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực và hiệu suất làm việc của mình. Như vậy, theo hàm ý của học thuyết này, nếu thù lao nhận được vượt quá mong đợi của họ, họ sẽ có xu hướng gia tăng công sức của họ trong công việc, ngược lại nếu thù lao họ nhận được thấp hơn so với đóng góp của họ, họ sẽ có xu hướng giảm bớt nỗ lực hoặc tìm các giải pháp khác như vắng mặt trong giờ làm việc hoặc thôi việc.
Một nhân viên không thể có được sự hài lòng nếu họ nhận ra rằng mình bị đối xử không công bằng từ vấn đề lương bổng, cơ hội đào tạo thăng tiến đến sự hỗ trợ từ cấp trên… Thuyết hai ERG của Alderfer (1969) Nhìn chung lý thuyết này giống như thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, tuy nhiên có một số khác biệt như sau: thứ nhất, số lượng nhu cầu được rút gọn còn ba thay vì năm, đó là nhu cầu tồn tại (existence need), nhu cầu liên đới (relatedness need) và nhu cầu phát triển (growth need); thứ hai, khác với Maslow, Alderfer cho rằng, có thể có nhiều nhu cầu xuất hiện trong cùng một thời điểm (Maslow cho rằng chỉ có một nhu cầu xuất hiện ở một thời điểm nhất định); thứ ba, là yếu tố bù đắp giữa các nhu cầu, một nhu cầu không được đáp ứng có thể được bù đắp bởi nhu cầu khác (Kreitner & Kinicki, 2007) .Ví dụ: một nhân viên không được đáp ứng nhu cầu về thu nhập nhưng có thể được bù đắp bởi môi trường làm việc tốt, công việc 6 phù hợp, cơ hội được đào tạo thăng tiến, v.) trong khi Maslow thì không thừa nhận điều đó. Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964) Vroom cho rằng hành vi và động cơ làm việc của con người không nhất thiết được quyết định bởi hiện thực mà nó được quyết định bởi nhận thức của con người về những kỳ vọng của họ trong tương lai. Lý thuyết này xoay quanh ba khái niệm cơ bản: - Kỳ vọng: là niềm tin rằng nỗ lực sẽ dẫn đến kết quả tốt. Khái niệm này được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa nỗ lực và kết quả.
- Tính chất công cụ: là niềm tin rằng kết quả tốt sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng. Khái niệm này được thể hiện qua mối quan hệ giữa kết quả và phần thưởng. - Hóa trị: là mức độ quan trọng của phần thưởng đối với người thực hiện công việc. Khái niệm này được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa phần thưởng và mục tiêu cá nhân.
Học thuyết này cho rằng người nhân viên chỉ được động viên khi nhận thức của họ về cả ba khái niệm hay ba mối quan hệ trên là tích cực. Nói cách khác là khi nhân viên tin rằng nỗ lực của họ sẽ cho ra kết quả tốt hơn, kết quả đó sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng và phần thưởng đó có ý nghĩa và phù hợp với mục tiêu cá nhân của họ thì họ sẽ hài lòng với việc cố gắng trong công việc. Thuyết cấp bậc nhu cầu Maslow (1943) Theo Maslow nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng và tự thể hiện. Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bậc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện.
Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại. Trong công việc nhu cầu này được thể hiện chủ yếu thông qua tiền lương. Những nhu cầu về an toàn và an ninh là các nhu cầu như an toàn, không bị đe dọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ. Trong công việc nhu cầu này được thể hiện thông 7 qua môi trường làm việc, điều kiện làm việc, bảo hiểm y tế, các chính sách phúc lợi.
Những nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bàn bè, xã hội. Trong công việc thể hiện qua môi quan hệ với đồng nghiệp, lãnh đạo, khách hàng, đối tác. Những nhu cầu tự trọng là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng địa vị. Nhu cầu này thể hiện ở những kết quả đạt được sau khi hoàn thành công việc, việc được ghi nhận.
thường được thể hiện ở bản chất công việc. Những nhu cầu tự thể hiện là những nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước. Đây là nhu cầu cao nhất và khó được thỏa mãn. Nó thường được thể hiện qua cơ hội đào tạo, cơ hội thăng tiến, được tự khẳng định bản thân.
Mô hình đặc điểm công việc của Hackman & Oldham (1974) Hackman và Oldham (1974) đã xây dựng mô hình này nhằm xác định cách thiết kế công việc sao cho người lao động có được động lực làm việc ngay từ bên trong họ cũng như tạo được sự thỏa mãn công việc nói chung và tạo được hiệu quả công việc tốt nhất. Để xây dựng được thiết kế công việc như thế, theo hai nhà nghiên cứu này, công việc trước hết phải sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau, người nhân viên phải nắm rõ công việc từ đầu đến cuối và công việc phải có tầm quan trọng nhất định. Ba điều này sẽ mạng lại ý nghĩa trong công việc cho người lao động cũng như mang lại sự thú vị cho họ. Kế đến, công việc phải cho phép nhân viên thực hiện một số quyền nhất định nhằm tạo cho nhân viên cảm nhận được trách nhiệm về kết quả công việc của mình.
Cuối cùng, công việc phải đảm bảo có tính phản hồi từ cấp trên, ghi nhận thành tựu của nhân viên cũng như những góp ý, phê bình nhằm giúp nhân viên làm việc tốt hơn ở lần sau. Nó giúp nhân viên biết được kết quả thực sự của công việc mình làm.3 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 2.1 Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005) Nghiên cứu đã sử dụng thang đo chỉ số mô tả công việc JDI để đo lường mức độ hài lòng của người lao động được khảo sát. Tác giả đã điều chỉnh thang đo JDI sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của nhân viên đối với công việc là: Bản chất công việc, Lãnh đạo, Đồng nghiệp, Cơ hội đào tạo và thăng tiến, Tiền lương, Phúc lợi và Điều kiện làm việc.
Kết quả phân tích cuối cùng cho thấy, có 4 trong 7 yếu tố này tác động trực tiếp đến sự gắn kết của người lao động đối với tổ chức, đó là: Yếu tố tiền lương, Bản chất công việc, Lãnh đạo và Cơ hội thăng tiến. Nghiên cứu của Phan Quốc Tấn và cộng sự (2019) Nghiên cứu này nhằm khám phá và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên với tổ chức. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 220 nhân viên y tế đang làm việc tại các bệnh viện công lập thành phố Hồ Chí Minh.