Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản trị nhân lực 1. Khái niệm quản trị nhân lực Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triền cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động” [3, tr.
Có nhiều quan điểm khác nhau về nhân lực, cụ thể như: Nhân lực là người lao động. Theo Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2019 “Người lao động là người có đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng” [11]. Flippo thì: “Quản trị nhân lực là hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm tra các vấn đề thu hút, phát triển, trả công, phối hợp và duy trì con người nhằm thực hiện mục đích của tổ chức” [22]. Với quan điểm của Torrington và Hall: “Quản trị nhân lực là một loạt các hoạt động, trước hết cho phép những người làm việc và tổ chức thuê họ đạt được thảo thuận về mục tiêu và bản chất của các mối quan hệ trong công việc, sau đó là bảo đảm rằng tất cả các thỏa thuận đều được thực hiện” [29].
Theo Mathis & Jackson (2007): “Quản trị nguồn nhân lực là việc thiết kế các hệ thống chính thức trong một tổ chức để đảm bảo hiệu quả và hiệu quả sử dụng tài năng của con người nhằm thực thực hiện các mục tiêu của tổ chức” [28]. Như vậy quản trị nhân lực chú trọng đến việc tuyển chọn, phát triển, khen thưởng cà chỉ huy nhân viên nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Lúc đó con người mới chỉ được coi là là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, chưa có vai trò qua trọng trong các tổ chức và quyền lợi của họ chưa được chú trọng đúng mức. Các chức năng quản trị nhân lực thường do cán bộ nhân sự thực hiện và chưa tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa chiến lược kinh doanh của tổ chức với các chính sách thủ 6 Luan van tục trong nhân sự.
Khi đề cập đến QLNL thì Gary Dessler chú trọng yếu tố vi phạm và nội dung đang thực hiện. Theo Gary Dessler: “QTNL là triết lý, cuộc sống, tủ tục và thực tiễn liên quan đến việc quản trị con người trong phạm vi của tổ chức” [23]. Riêng tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường như Việt Nam, sự khác biệt giữa quản trị nhân sự và QTNL là rất lớn và có tính chất đặc thù. Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, tất cả các chính sách nhân sự tại các đơn vị quốc doanh không phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, trình độ kỹ thuật công nghệ, lao động,.
Các vấn đề tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm, trả lương, khen thưởng, kỷ luật, hưu trí,. đề do Nhà nước ban hành và được thực hiện như những chính sách xã hội ở tầm vĩ mô. Do đó các tiếp cận QTNL tại các nước này đòi hỏi các tổ chức phải có quyền QTNL, có quan điểm, triết lý mới, phương pháp hoàn toàn mới. QTNL vừa là yêu cầu tất yếu của cải cách kinh tế, vừa là giai đoạn phát triển tiếp theo của quản trị nhân sự.
Như vậy khái niệm QTNL tại các nước vừa đang phát triển, vừa có nền kinh tế chuyển đổi phải thỏa mãi các yêu cầu nội dung sau: 1. Thể hiện quan điểm tiến bộ đối với quyền lợi của người lao động, chú trọng kết hợp thỏa mãn mục tiêu của cả tổ chức lẫn nhân viên. Chỉ rõ phạm vi, đối tượng nghiên cứu là quản trị con người trong các tổ chức. Các chiến lược, chính sách quản trị con người trong doanh nghiệp phải phục vụ cho chiếm lược, chính sách kinh doanh của tổ chức.
Thể hiện được những yếu tố chính của QTNL, bao gồm cả triết lý, chính sách và các hoạt động thực tiễn. Không đòi hỏi có những điều kiện đặc biệt khi áp dụng. Ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu. Như vậy, trong một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, nơi trình độ công nghệ, kỹ thuật còn ở mức độ thấp, kinh tế chưa ổn định và Nhà nước chủ trương quá trình phát triển phải thực hiện bằng con người và vì con người, thì QTNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo và phát triển, duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ 7 Luan van chức lẫn nhân viên.
[4] Tại mỗi quốc gia, QTNL sẽ có khái niệm và thực tiễn áp dụng khác nhau. Có thể thấy rằng QTNL chính là công cụ trợ giúp đắc lực cho nhà quản lý đạt được mục tiêu trong sử dụng nhân lực. Một quản trị gia có thể xây dựng kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng mô hình tổ chức rõ ràng, có hệ thống đánh giá, kiểm tra một cách chính xác. Tóm lại có thể thấy rằng, quản trị nhân lực là tất cả những chính sách, hoạt động, quyết định quản lý, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và toàn thể cán bộ công nhân viên.
Bộ phận quản trị nhân lực bắt buộc phải có tầm nhìn chiến lược và gắn liền với những kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp. Quản trị nhân lực là một trong những chức năng quan trọng và cơ bản của công tác quản trị, bởi con người là bộ phận nòng cốt, là nguồn lực quan trọng nhất và cũng chính là trung tâm của sự phát triển của một công ty, doanh nghiệp. Nếu như nói bộ phận bán hàng là mũi nhọn đứng đầu, mang lại mọi nguồn lợi, doanh thu cho doanh nghiệp, thì nhân sự được xem là hậu phương vững chắc giúp doanh nghiệp phát triển. Chính vì vậy, việc thu hút, đào tạo, tuyển dụng, đánh giá, sắp xếp những có năng lực, phẩm chất phù hợp với vị trí, đồng thời giám sát, lãnh đạo, đảm bảo phù hợp với luật lao động và việc làm… chính là nhiệm vụ hàng đầu của những nhà quản trị.
Ý nghĩa và vai trò của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp Tầm quan trọng và vai trò của quản trị nhân lực tăng mạnh trên toàn thế giới trong mấy thập kỷ gần đây khi trình độ năng lực của nhân viên được nâng cao và mức độ trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại; công việc này càng phức tạp, đa dạng và yêu cầu của công việc ngày càng tăng; hầu hết các tổ chức đều phải đối đầu với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường; phải vật lộn với các cuộc suy thoái kinh tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân viên. Đặc biệt, do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường nên các tổ chức, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tổ bộ máy của mình theo hướng tinh giảm và gọn nhẹ, năng động trong đó yếu tố con người mang tính quyết định. Bởi vậy, việc tìm đúng người phù hợp để giao đúng việc, đúng cương vị đang là vấn đề đáng quan tâm với mọi loại 8 Luan van hình tổ chức hiện này. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng với sự phát triển của nền kinh tế buộc các nhà quản trị phải biết thích ứng.
Do đó, việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo, điều động nhân sự trong tổ chức nhằm đạt hiệu quả tối ưu là vấn đề phải quan tâm hàng đầu. Nghiên cứu quản trị nhân lực giúp cho nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác. Một nhà quả trị có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại, chính xác,. nhưng nhà quản trị đó vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển đúng người cho đúng việc, hoặc không biết cách khuyến khích nhân viên làm việc.
Để quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách làm việc và hòa hợp với người khác, biết cách lôi kéo người khác làm theo minh. Nhiều khi các quản trị gia có thế mạnh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhưng lại không được đào tạo hoàn chỉnh trong cách lãnh đạo nhân viên. Họ điều khiển giỏi và dành nhiều thời gian làm việc với máy móc, trang thiết bị kỹ thuật hơn là làm việc với con người. Thực tế cho thấy, một lãnh đạo giỏi cần phải dành nhiều thời gian nghiên cứu giải quyết các vấn đề nhân sự hơn là các vấn đề khác [18, tr.
Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp cho các nhà quản trị học được cách giao dịch với người khác, biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết cách nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được các sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của các cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể đưa chiến lược con người trở thành một bọ phận hữu cơ trong chiến lược kinh doanh của tổ chức. Như vậy, về mặt kinh tế, quản trị nhân lực giúp cho tổ chức khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của tổ chức về nhân lực. Về mặt xã hội, quản trị nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức và doanh nghiệp. Nội dung quản trị nhân lực Có nhiều cách để tiếp cận khác nhau về nội dung quản trị nhân lực, trong phần trình bày này, luận văn tiếp cận theo quy trình của quản trị nhân lực.
Cụ thể, nội dung quản trị nhân lực gồm những công việc sau: 1. Lập kế hoạch nhân lực (i). Phân tích công việc Phân tích công việc là công việc đầu tiên cần phải biết của mọi nhà quản trị nhân lực. “Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng nhân viên khi cân thiết phải có để thực hiện tốt công việc” [5, tr.