Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC 1. Khái quát về công chức, đặc điểm công chức 1. Khái niệm công chức Khái niệm công chức được tiếp cận tại nhiều văn bản khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Công chức là những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” [21,tr.
Như vậy, công chức theo nghĩa chung là những người làm việc cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành, khái niệm công chức cũng thể hiện những nội dung nhất định. Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành sắc lệnh 76/SL về Quy chế công chức, trong đó khái niệm công chức Việt Nam thể hiện rất hẹp, chỉ những người làm việc trong phạm vi các cơ quan Chính phủ. Theo đó, “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [14].
Sau đó, do hoàn cảnh kháng chiến, mặc dù không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SL nhưng trên thực tế các nội dung của quy chế đó không được áp dụng; giai đoạn này, cụm từ hay được nhắc tới để nói đến những người làm việc trong cơ quan nhà nước đó là “công nhân viên chức nhà nước”. Bước sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới, đòi hỏi phải chuẩn hóa khái niệm về công chức nhằm đáp 6 Luan van ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính mới. Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về công chức nhà nước đã quy định công chức theo một phạm vi rộng hơn “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước” [20]. Đến năm 1998, Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2000 và 2003), trong đó đã quy định về cán bộ, công chức; đó là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm: những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện với cách thức bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn; những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã [25] Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh công chức sửa 7 Luan van đổi năm 2003 đã nêu lên được những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước gọi là viên chức; tuy nhiên không làm rõ được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức mà chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức.
Để làm rõ hơn các khái niệm về cán bộ, công chức. Năm 2008, Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 13/11/2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 đã quy định rõ hơn về khái niệm cán bộ, công chức. Theo đó, tại Điều 4 quy định“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[27] Từ những văn bản pháp luật nêu trên, có thể thấy khái niệm công chức được đề cập trong từng giai đoạn khác nhau có những cách thể hiện khác nhau, điều này phụ thuộc vào đặc điểm tình hình từng giai đoạn, có lúc nêu cụ thể, có lúc nêu chung chung; nhưng nhìn chung, khái niệm công chức thể hiện rõ những nội dung cơ bản sau: đó là công dân Việt Nam, được hình thành từ con đường tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc tại các cơ quan thuộc hệ thống chính trị xã hội, được đưa vào biên chế và ngân sách nhà nước đảm bảo trả lương cho hoạt động. Đặc điểm công chức Theo khái niệm về công chức đã nêu tại phần trên, đặc điểm của công chức được thể hiện ở một số nội dung sau: 8 Luan van Thứ nhất, theo tính chất công việc của công chức thì công chức là người làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và có tính chuyên môn nghiệp vụ.
Khi đã được tuyển dụng thì công chức sẽ làm việc thường xuyên, liên tục, không gián đoạn về mặt thời gian. Với mỗi ngạch chức danh được tuyển dụng, đòi hỏi năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức tương ứng. Thứ hai, con đường hình thành công chức là thông qua tuyển dụng và bổ nhiệm. Việc tuyển dụng do cơ quan có thẩm quyền tiến hành căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao.
Người được tuyển dụng phải là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật cán bộ, công chức và không phải những người được quy định tại Khoản 2 Điều 36. Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện người được tuyển dụng phải trải qua kỳ thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật. Công chức còn được hình thành thông qua con đường bổ nhiệm để giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý. Việc bổ nhiệm công chức giữ phải căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Thứ ba, về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. Với các đặc điểm nêu trên, có thể thấy giữa công chức và viên chức có điểm khác nhau cơ bản nhất đó là về con đường hình thành, công chức được hình thành từ con đường tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế, không làm việc theo chế độ hợp đồng; còn viên chức được hình thành từ cong đường tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc theo chế độ hợp đồng. Từ con đường hình thành nêu trên, dẫn đến chế độ giữa 9 Luan van công chức và viên chức cũng có những điểm khác nhau cơ bản như về tiền lương, bảo hiểm xã hội, quyền và nghĩa vụ, … 1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của đánh giá công chức 1.
Khái niệm đánh giá công chức Theo Từ điển Tiếng Việt thì đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị. Đánh giá công chức có thể hiểu là nhận xét, bình phẩm về năng lực công tác, chuyên môn nghiệp vụ và kết quả thực hiện công việc của công chức. Đánh giá công chức là một nội dung quan trọng trong quá trình quản lý và sử dụng công chức, được tiến hành hàng năm, trước khi xét nâng ngạch, nâng lương trước thời hạn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, quy hoạch, điều động, trước khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái nhằm cung cấp những thông tin nhất định về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; làm cơ sở cho các nhà quản lý quyết định việc quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức; đồng thời gúp cho mỗi cá nhân được đánh giá có thể nhìn nhận lại chính bản thân mình, nhằm hoàn thiện mình ngày càng tốt hơn, đáp ứng yêu cầu công việc. Đây là một nội dung khó khăn, phức tạp và cũng là nội dung không thể thiếu trong quá trình quản lý công chức.
Vai trò, ý nghĩa đánh giá công chức Đánh giá công chức là khâu có ý nghĩa quyết định đối với công tác xây dựng đội ngũ công chức, có vai trò quan trọng và ý nghĩa lớn đối với công tác quản lý công chức nói riêng. Vai trò của đánh giá công chức được thể hiện rõ thông qua mục đích của công tác đánh giá công chức. Tại Điều 55 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 xác định mục đích đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là cơ sở để xem xét bố 10 Luan van trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức.
Đánh giá công chức không chỉ có ý nghĩa đối với công tác quản lý, người sử dụng công chức mà còn có ý nghĩa đối với cá nhân công chức được đánh giá.