phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan những cơ sở lí luận về quản trị nhân sự 8 z Chƣơng 2: Phân tích thực trạng quản trị nhân sự tại công ty TNHH nhà nƣớc MTV Vƣờn Thú Hà Nội Chƣơng 3: Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân sự của công ty TNHH nhà nƣớc một thành viên Vƣờn Thú Hà Nội. 9 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ 1.KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUẢN TRỊ NHÂN SỰ. Các khái niệm cơ bản. Mọi quản trị suy cho cùng là quản trị con ngƣời.
Điều đó trƣớc hết là do con ngƣời là nguồn lực quan trọng nhất, quý giá nhất của mọi tổ chức, mọi doanh nghiệp. Văn Năm, Lý Hoàng Ánh (2013) – Quyền lực tri thức trong tƣ tƣởng chính trị của Alvin Toffler khi nhấn mạnh đến sức mạnh của tri thức, Alvin Toffler đã viết: "Lâu đài, máy móc của doanh nghiệp không còn là quan trọng, cái quan trọng thực sự là năng lực nghiệp vụ, năng lực tổ chức các cấp nghiệp vụ và những sáng kiến ẩn dấu trong vỏ não của nhân viên doanh nghiệp‟‟. Nhà nghiên cứu Robert Reich (1992), The works of Nation, Mac Hall Publicsching cũng cho rằng „‟Tài nguyên duy nhất thật sự còn có tính cách quốc gia là nhân công, năng lực trí tuệ và óc sáng tạo của họ. Đó chính là những gì sẽ quyết định thịnh vƣợng trong tƣơng lai‟‟.
Thứ hai, quản trị con ngƣời là quản trị yếu tố phức tạp nhất trong doanh nghiệp. Đối với hoạt động quản trị không có con ngƣời chung chung, con ngƣời trừu tƣợng. Mỗi một thành viên trong doanh nghiệp là một con ngƣời cụ thể, có cá tính khác nhau, mà những nhu cầu, tình cảm này lại thể hiện ra bên ngoài cũng rất khác nhau.Vì vậy, những tác động của của các nhà quản trị đến các nhân viên khác nhau không thể giống nhau hoàn toàn. Cuối cùng, yếu tố con ngƣời tham gia mọi hoạt động của doanh nghiệp.Covey, Bảy thói quen của ngƣời thành đạt, nói rằng về cơ bản có 3 loại vốn: Vốn vật chất, vốn tài chính và vốn con ngƣời, nhƣng quan trọng nhất là con ngƣời, "bởi vì con ngƣời làm chủ vốn vật chất và vốn tài chính‟‟.
Các yếu tố vật chất nhƣ máy móc, nguyên vật liệu, tài chính, sẽ trở nên vô dụng nếu không có bàn tay và trí tuệ của 10 z con ngƣời tác động vào. Vì vậy muốn khai thác và sử dụng các yếu tố khác của doanh nghiệp một cách có hiệu quả thì trƣớc hết phải làm cho yếu tố con ngƣời biết cách làm việc có hiệu quả. Quản trị nhân sự là những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con ngƣời đảm bảo cho việc hoàn thành mục tiêu chung của doanh nghiệp một cách tốt nhất. Từ khái niệm trên, chúng ta phải trả lời câu hỏi vậy làm thế nào để quản trị nhân sự và phát triển nhân sự nhƣ thế nào? Phát triển nhân sự (Human resource development HRD) theo từ điển Long man Business dictionary (2007) là : “Một bộ phận của quản trị nhân sự chú trọng đến khâu đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên.
Phát triển nhân sự bao gồm việc đào tạo các cá nhân sau khi họ đƣợc thu nhận vào làm việc cho tổ chức, cung cấp cho họ những cơ hội học tập các kỹ năng mới, tạo điều kiện để cá nhân họ thực hiện nhiệm vụ của mình trong tổ chức cùng với các hoạt động mang tính phát triển khác‟‟. Theo một định nghĩa khác, phát triển nhân sù là những hoạt động giúp cho nhân viên phát triển những kỹ năng cá nhân và kỹ năng tổ chức, phát triển kiến thức, hiểu biết và những khả năng. Phát triển nhân sù bao gồm những hoạt động nhƣ huấn luyện đào tạo, phát triển sự nghiệp, thúc đẩy và kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ, huấn luyện, lập kế hoạch liên tục, xác định những nhân viên chủ chốt, hỗ trợ tài chính và phát triển tổ chức.com) Theo Robert Rouda và Mitchell Kusy (Human resource development Rewiew,2006) : “phát triển nhân sự là những hoạt động huấn luyện đƣợc sắp xếp trong tổ chức nhằm mục đích đẩy mạnh hoạt động và sự phát triển của các cá nhân và tổ chức. Phát triển nhân sự bao gồm những lĩnh vực nhƣ đào tạo và phát triển, phát triển sự nghiệp, phát triển tổ chức”.
11 z Nhƣ vậy, dù cho hiểu theo định nghĩa nhƣ thế nào thì trọng tâm của phát triển là phát triển nhân sự lực lƣợng lao động một cách tốt nhất để tổ chức và cá nhân ngƣời lao động có thể thực hiện đƣợc các mục tiêu công việc của họ. Vai trò của quản trị nhân sự Đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội, nguồn lực có một vai trò vô cùng quan trọng. Phát triển kinh tế, xã hội đƣợc dựa trên nhiều nguồn lực nhƣ nhân lực, vật lực, tài lực… song chỉ có nguồn lực con ngƣời mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy đƣợc tác dụng thì chỉ có thể thông qua nguồn lực con ngƣời. Ngay cả trong điều kiện đạt đƣợc tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại thì cũng không thể tách rời nguồn lực con ngƣời.
Đối với máy móc thiết bị hiện đại nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con ngƣời thì chúng chỉ là vật chất. Chỉ có tác động của con ngƣời mới phát động chúng và đƣa chúng vào hoạt động. Chính vì vậy, nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực của con ngƣời đƣợc huy động vào quá trình sản xuất thì năng lực đó chính là nội lực của con ngƣời. Trong phạm vi xã hội, đó là một trong những nguồn nội lực quan trọng cho sự phát triển.
Đặc biệt đối với nƣớc ta là nƣớc đang phát triển, dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành nguồn nội lực quan trọng nhất. Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển. Mặt khác, phát triển kinh tế xã hội nhằm mục tiêu phục vụ cho con ngƣời, chính con ngƣời là lực lƣợng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Nhu cầu của con ngƣời lại vô cùng phong phú, đa dạng và thƣờng xuyên tăng lên, điều đó tác động tới quá trình phát triển kinh tế, xã hội.
Nhƣ vậy, động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới con ngƣời cũng nằm trong chính bản thân con ngƣời, điều đó lý giải tại sao con ngƣời đƣợc coi là nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất của sự phát triển. 12 z Đối với các doanh nghiệp, nhân sù chính là yếu tố đầu vào có ảnh hƣởng lớn đến chất lƣợng sản phẩm của doanh nghiệp. Tất cả hoạt động của doanh nghiệp đều không thể thực hiện mà không có sự có mặt của nhân sù, từ việc phân tích dự báo nhu cầu sản xuất, lập kế hoạch, quyết định chiến lƣợc sản xuất kinh doanh cho đến việc vận hành máy móc, thiết bị, xác định nhu cầu vốn, vật tƣ, bán hàng, chăm sóc khách hàng, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi. Hơn bao giờ hết, cùng với sự gia tăng của hàm lƣợng chất xám trong sản phẩm, dịch vụ, vai trò của con ngƣời ngày càng trở nên quan trọng và trở thành nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một quốc gia nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng.
Chính bởi yêú tố nhân sự có vai trò quan trọng nhƣ vậy đối với sự thành công của một tổ chức mà phát triển nhân sự có thể cung cấp cho các nhà quản lý những công cụ họ cần để quản lý và phát triển tổ chức. Tất cả các khâu từ sản xuất, quản lý, Marketing, bán hàng, nghiên cứu và phát triển chỉ có thể đạt hiệu quả nếu ngƣời lao động đƣợc đào tạo, cung cấp thông tin đầy đủ, đƣợc quản lý, sử dụng và phát triển tốt. Quản trị nhân sự có vai trò quan trọng trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp: Tổ chức sản xuất kinh doanh là việc lập ra một hệ thống chính thức gồm các vai trò nhiệm vụ mà con ngƣời có thể thực hiện, sao cho họ có thể cộng tác một cách tốt nhất với nhau để đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp. Để việc tổ chức sản xuất tồn tại có ý nghĩa với mỗi cá nhân, nó phải có những điều kiện nhƣ: phải liên kết những mục tiêu xác đáng của doanh nghiệp mà nó đƣợc chỉ ra khi lập kế hoạch; phải có một ý đồ rõ ràng về những công việc hay hoạt động chủ yếu có liên quan; phải có một phạm vi có thể hiều đƣợc về sự tự quyết hay quyền hạn sao cho ngƣời thực hiện nhiệm vụ này hiểu đƣợc rằng họ có thể đƣợc làm những gì để hoàn thành công việc.
Công tác tổ chức nhƣ là việc nhóm gộp các hoạt động cần thiết để đạt đƣợc mục tiêu, là việc giao phó cho mỗi cá nhân cho một ngƣời quản lý với quyền hạn cần thiết để giám sát nó, và là việc tạo điều kiện cho sự liên kết ngang và dọc trong cơ cấu của doanh nghiệp. Một cơ cấu tổ chức cần phải đƣợc thiết kế 13 z để chỉ ra rõ ràng rằng ai sẽ làm việc gì và ai có trách nhiệm trong kết quả nào; để loại bỏ những trở ngại đối với việc thực hiện do sự lầm lỡ và không chắc chắn trong việc phân công công việc gây ra; và để tạo điều kiện cho các mạng lƣới ra quyết định và liên lạc phản ánh và hỗ trợ cho các mục tiêu của doanh nghiệp. Nói tóm lại, bản chất của công tác tổ chức là, những ngƣời cùng làm việc phải có những vai trò nhất định. Mặt khác những vai trò mà mỗi ngƣời phải thực hiện phải đƣợc xây dựng một cách có chủ đích để đảm bảo rằng những hoạt động cần thiết sẽ đƣợc thực hiện và để đảm bảo rằng các hoạt động này là phù hợp với nhau, sao cho con ngƣời có thể làm việc một cách trôi chảy, có hiệu quả và có kết quả trong các nhóm.