Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục … luận văn đƣợc kết cấu bao gồm 3 chƣơng chính có nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tiền lƣơng, cơ chế trả lƣơng 3P tại các doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng áp dụng cơ chế trả lƣơng 3P tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Hải Phòng giai đoạn 2016-2020. Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện cơ chế trả lƣơng 3P tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Hải Phòng giai đoạn 2020-2025. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƢƠNG, CƠ CHẾ TRẢ LƢƠNG 3P TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản. Khái niệm về tiền lương Tiền lƣơng luôn là mối quan tâm hàng đầu của NLĐ, là một yếu tố trọng yếu gắn kết để họ cống hiến cho tổ chức. Về phía NLĐ, tiền lƣơng là nguồn thu nhập chủ yếu để nuôi sống bản thân, gia đình họ. Về phía doanh nghiệp, tiền lƣơng lại là một yếu tố thuộc chi phí sản xuất.
Hiện nay, tiền lƣơng có nhiều khái niệm, quan điểm tiếp cận khác nhau. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiền lƣơng là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện bằng tiền mà ngƣời lao động nhận đƣợc để bù đắp cho lao động đã bỏ ra tuỳ theo số lƣợng và chất lƣợng của ngƣời lao động đó. Nhƣ vậy tiền lƣơng là một phần giá trị mới sáng tạo ra đƣợc phân phối cho ngƣời lao động để tái sản xuất sức lao động của mình. Vì ngƣời lao động trong quá trình tham gia sản xuất phải hao phí một lƣợng sức lao động nhất định và sau đó phải đƣợc bù đắp bằng việc sử dụng tƣ liệu tiêu dùng.
Tiền lƣơng dƣới thời kỳ XHCN là một bộ phận của thu nhập quốc dân đƣợc Nhà nƣớc phân phối cho ngƣời lao động vì thế nó chịu ảnh hƣởng của một loạt nhân tố: Trình độ phát triển sản xuất, quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng trong từng thời kỳ và chính sách của Nhà nƣớc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế chính trị trong thời kỳ đó. Nhƣ vậy tiền lƣơng của ngƣời lao động còn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội của Đất nƣớc. Một nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, các phƣơng tiện sản xuất chƣa tiên tiến, trình độ lao động chƣa cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp thì tiền lƣơng chƣa thể cao đƣợc. Mặt khác, lúc đó thu nhập quốc dân chƣa đủ để đáp nhu cầu cao về tiền lƣơng của toàn xã hội.
Nhƣ ta biết thu nhập quốc dân phụ thuộc vào hai yếu tố đó là: Số lƣợng lao động trong khu vực sản xuất vật chất và năng suất lao 11 động bình quân của khối sản xuất vật chất. Vì vậy, tiền lƣơng chỉ đƣợc tăng lên trên cơ sở tăng số lƣợng lao động trong khu vực sản xuất và tăng năng suất lao động của khối này. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Tiền lương là sự trả lương hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do NSDLĐ phải trả cho NLĐ theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công nhân đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”[6]. Theo khái niệm của Tổ chức ILO thì tiền lƣơng đƣợc xác định là sự trả lƣơng hay thu nhập và phụ thuộc vào pháp luật mỗi quốc gia.
Tại Việt Nam thì tiền lƣơng nhiều khi chƣa phải là phần lớn thu nhập của NLĐ mà thu nhập của NLĐ phần lớn lại có nguồn gốc từ tiền thƣởng và các khoản thu nhập khác ngoài lƣơng do vậy tiền lƣơng chƣa thực sự làm đúng chức năng của nó. Điều 90, Bộ luật Lao động (sửa đổi) năm 2012 ghi rõ: "Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác" [5]. Văn kiện Đại hội XI của Đảng ghi: “Tiền lương, tiền công phải được coi là giá cả sức lao động, được hình thành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”.
Tiền lƣơng là yếu tố cơ bản để quyết định thu nhập tăng hay giảm của ngƣời lao động, quyết định mức sống vật chất của ngƣời lao động làm công ăn lƣơng trong doanh nghiệp. Vì vậy để có thể trả lƣơng một cách công bằng chính xác, đảm bảo quyền lợi cho ngƣời lao động thì mới tạo ra sự kích thích, sự quan tâm đúng đắn của ngƣời lao động đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp. Có thể nói hạch toán chính xác đúng đắn tiền lƣơng là một đòn bẩy 12 kinh tế quan trọng để kích thích các nhân tố tích cực trong mỗi con ngƣời, phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của ngƣời lao động tạo thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế. Mặt khác, tiền lƣơng là một trong những chi phí của doanh nghiệp hơn nữa lại là chi phí chiếm tỉ lệ đáng kể.
Mục tiêu của doanh nghiệp là tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận nhƣng bên cạnh đó phải chú ý đến quyền lợi của ngƣời lao động. Do đó làm sao và làm cách nào để vừa đảm bảo quyền lợi của ngƣời lao động vừa đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp. Đó là vấn đề nan giải của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy hạch toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng không những có ý nghĩa phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời lao động mà còn có ý nghĩa giúp các nhà quản lý sử dụng quỹ tiền lƣơng có hiệu quả nhất tức là hợp lý hoá chi phí giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi.
Cung cấp thông tin đầy đủ chính xác về tiền lƣơng của doanh nghiệp, để từ đó doanh nghiệp có những điều chỉnh kịp thời, hợp lý cho những kì doanh thu tiếp theo.[3] Tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng sẽ là nguồn thu nhập chính, thƣờng xuyên của ngƣời lao động, đảm bảo tái sản xuất và mở rộng sức lao động, kích thích lao động làm việc hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh khi công tác hạch toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng đƣợc hạch toán hợp lý công bằng chính xác. Quỹ tiền lương và phân phối quỹ tiền lương 1.1 Quỹ tiền lương: Việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền lƣơng chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau nhƣ pháp luật tài chính quy định về cơ chế tạo lập, sử dụng quỹ tiền lƣơng - với tính cách là một quỹ tiền tệ trong quá trình tồn tại của một cơ quan, đơn vị, tổ chức; còn luật lao động lại quy định về những căn cứ để xác định định mức giá trị quỹ tiền lƣơng, cách thức trả lƣơng và số 13 tiền lƣơng đƣợc trả cho ngƣời lao động theo từng tháng hoặc từng công việc cụ thể. Tuỳ thuộc vào đặc điểm, tính chất và lĩnh vực hoạt động của từng loại hình tổ chức mà quỹ tiền lƣơng đƣợc tạo lập, quản lí và sử dụng theo những quy định khác nhau của pháp luật. Đối với ngƣời sử dụng lao động là cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị sự nghiệp, đơn vị lực lƣợng vũ trang (gọi chung là những đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách nhà nƣớc cấp), tổng quỹ tiền lƣơng và cách thức sử dụng quỹ tiền lƣơng của đơn vị đó do Nhà nƣớc quy định và kiểm soát trực tiếp, thông qua việc phê chuẩn bản dự toán và bản quyết toán ngân sách của đơn vị (trong đó có khoản dự toán chi ngân sách về quỹ tiền lƣơng, phù hợp với chỉ tiêu biên chế đã đƣợc duyệt).
Việc quản lí quỹ tiền lƣơng và mức lƣơng trả cho ngƣời lao động trong các đơn vị này không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của đơn vị, bởi vì các nguyên tắc trả lƣơng và mức lƣơng trả cho từng chức danh, từng ngạch bậc công chức, viên chức đã đƣợc Nhà nƣớc quy định rất cụ thể, chỉ tiết và mang tính ổn định. Việc khoán quỹ tiền lƣơng và khoán chỉ hành chính có thể đƣợc áp dụng triệt để đối với các đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách nhà nƣớc nhằm nâng cao tính hiệu quả cho việc sử dụng quỹ tiền lƣơng và đề cao ý thức tự chủ, tính tự chịu trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động có trả lƣơng bằng kinh phí ngân sách nhà nƣớc cấp. Đối với ngƣời sử dụng lao động là các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế, tổng quỹ tiền lƣơng và cách thức sử dụng quỹ tiền lƣơng sẽ do Ban lãnh đạo hoặc ngƣời đứng đầu đơn vị đó quyết định trên cơ sở các nguyên tắc chung do Nhà nƣớc quy định. Ví dụ các quy định về thang lƣơng, đơn giá tiền lƣơng: quy định về mức tiền lƣơng tối thiểu; quy định về nguyên tắc trả lƣơng.
Việc quản lí và sử dụng quỹ tiền lƣơng trong các đơn vị này phụ thuộc trực tiếp vào kết quả hoạt động của đơn vị nên tổng giá trị quỹ tiền 14 lƣơng có thể thay đổi thƣờng xuyên theo kết quả kinh doanh và do đó mức tiền lƣơng thực tế trả cho ngƣời lao động cũng tăng giảm tƣơng ứng với kết quả kinh doanh của đơn vị sử dụng lao động.2 Phân phối Quỹ tiền lương Nội dung phân phối quỹ tiền lƣơng còn đƣợc thể hiện là sử dụng tổng quỹ lƣơng. Để đảm bảo quỹ tiền lƣơng không vƣợt chi so với quỹ tiền lƣơng đƣợc hƣởng, dồn chi quỹ tiền lƣơng vào các tháng cuối năm hoặc để dự phòng quỹ tiền lƣơng cho năm sau, doanh nghiệp có thể phân chia tổng quỹ tiền lƣơng thành các quỹ dùng để chi trả cho NLĐ. Tỷ lệ phân chia các quỹ cụ thể do doanh nghiệp tự quy định phù hợp với tính chất, số lƣợng từng loại đối tƣợng cần chi trả. - Quỹ tiền lƣơng trả trực tiếp cho NLĐ theo lƣơng khoán, lƣơng thời gian, lƣơng sản phẩm.
- Quỹ khen thƣởng từ quỹ lƣơng đối với NLĐ có năng suất, chất lƣợng cao, có thành tích tốt trong công tác. - Quỹ khuyến khích NLĐ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tay nghề giỏi. - Quỹ dự phòng cho năm sau.