phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về nhân sự và quản trị nhân sự; Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị nhân sự tại Công ty cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền phong giai đoạn 2014 – 2018; Chƣơng 3: Hoàn thiện công tác quản trị nhân sự tại Công ty cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền phong tới năm 2023. TỔNG QUAN VỀ NHÂN SỰ VÀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ 1. Khái niệm về nhân sự và quản trị nhân sự 1. Khái niệm nhân sự Nhân sự hay nhân lực đƣợc hiểu là các khả năng về thể lực và trí lực của con ngƣời đƣợc con ngƣời mang ra vận dụng vào trong quá trình lao động sản xuất và nó đƣợc coi là sức lao động của con ngƣời hay còn gọi là lao động sống - là một tài sản vô cùng quý giá của xã hội và của doanh nghiệp.
Ngƣời ta thƣờng nói: ”Sự nghiệp thành hay bại đều do con người”. Có thể nói trong bất kỳ mục tiêu phấn đấu của bất kỳ tổ chức nào, con ngƣời đều là trung tâm của sự phát triển. Cho dù một tổ chức đó có khả năng về tài chính, về tiềm lực khoa học công nghệ tiên tiến, nếu không có con ngƣời để ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến ấy, để sử dụng và quản lý tốt nguồn tài chính ấy thì tổ chức ấy không thể tồn tại và phát triển đƣợc. Cho đến nay đã có nhiều quan niệm về nhân lực.
Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Thế giới (IL0): Nhân lực đồng nghĩa với lực lƣợng lao động, là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động quy định có khả năng lao động, bao gồm những ngƣời thực tế đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp. Trong cuốn “Một số vấn đề về tư tưởng quản lý” các tác giả đã phân biệt nghĩa rộng và nghĩa hẹp của nhân lực. Theo các tác giả của cuốn sách này, thì “Nhân lực theo nghĩa rộng đư c hiểu như nguồn lực con người”. Nhân lực theo nghĩa hẹp (nhân lực xã hội và nhân lực doanh nghiệp) đƣợc hiểu nhƣ sau: “Nhân lực xã hội (còn gọi là nguồn lao động xã hội), là dân số trong độ tuổi có khả năng lao động” và “Nhân lực doanh nghiệp là lực lư ng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp”.
Trong luận văn này, tác giả không đi vào nghiên cứu nhân lực ở cấp độ quốc gia mà chỉ nghiên cứu trong phạm vi doanh nghiệp. Khái niệm nhân lực tiếp cận trong nghiên cứu này đƣợc hiểu theo nghĩa chung nhất là nguồn lực 5 con ngƣời (bao gồm thể lực và trí lực) đƣợc sử dụng trong quá trình lao động, sản xuất của doanh nghiệp. Khái niệm quản lý nhân lực trong phạm vi luận văn này cũng đƣợc hiểu là quản lý con ngƣời trong doanh nghiệp. Khái niệm quản trị nhân sự Nhân lực đƣợc hiểu là các khả năng về thể lực và trí lực của con ngƣời đƣợc con ngƣời mang ra vận dụng vào trong quá trình lao động sản xuất và nó đƣợc coi là sức lao động của con ngƣời hay còn gọi là lao động sống - là một tài sản vô cùng quý giá của xã hội và của doanh nghiệp.
Ngƣời ta thƣờng nói: ”Sự nghiệp thành hay bại đều do con người”. Có thể nói trong bất kỳ mục tiêu phấn đấu của bất kỳ tổ chức nào, con ngƣời đều là trung tâm của sự phát triển. Cho dù một tổ chức đó có khả năng về tài chính, về tiềm lực khoa học công nghệ tiên tiến, nếu không có con ngƣời để sử dụng và quản lý tốt nguồn tài chính thì tổ chức đó không thể tồn tại và phát triển đƣợc. Quản trị nhân sự là nghiên cứu các vấn đề về quản trị con ngƣời trong các tổ chức.
Vì vậy quản trị nhân sự là bộ phận quan trọng trong quản trị doanh nghiệp. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là đảm bảo sắp xếp có đúng ngƣời với kỹ năng và trình độ phù hợp, vào đúng công việc và vào đúng thời điểm thích hợp để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Mọi nhà quản trị đều là ngƣời quản trị nhân sự. Sự phát triển của doanh nghiệp là dựa vào sự phát triển năng lực chuyên môn của nhân viên và ngƣợc lại.
Quan niệm của Viện đại học Personnel Management: Quản trị nhân sự là trách nhiệm của tất cả các nhà quản trị và trách nhiệm theo Bảng mô tả công việc của những ngƣời đƣợc thuê làm chuyên gia. Đó là một phần của quản trị liên quan đến con ngƣời tại nơi làm việc và các mối quan hệ của họ trong nội bộ DN. Quan niệm của Flippo: Quản trị nhân sự là hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm tra các vấn đề thu hút, phát triển, trả công, phối hợp và duy trì con ngƣời nhằm thực hiện mục đích của tổ chức. 6 Quan niệm của Torrington và Hall: Quản trị nhân sự là một loạt các hoạt động, trƣớc hết cho phép những ngƣời làm việc và tổ chức thuê họ đạt đƣợc thỏa thuận về mục tiêu và bản chất của các mối quan hệ trong công việc, sau đó là bảo đảm rằng tất cả các thỏa thuận đều đƣợc thực hiện.
Quan niệm của Frech: Quản trị nhân sự là triết lý, cuộc sống, thủ tục và thực tiễn liên quan đến việc quản trị con ngƣời trong phạm vi của tổ chức. Đi sâu vào chính nội dung hoạt động thì quản trị nhân sự là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng nhƣ cung cấp các tiện nghi cho ngƣời lao động. Tóm lại, quản trị nhân sự là mọi hoạt động nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả của tổ chức, là tăng cường những đóng góp có hiệu quả của các cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt đư c các mục tiêu của xã hội và mục tiêu của cá nhân. Từ các khái niệm trên có thể hiểu Quản lý nhân lực ở DN là việc tuyển chọn, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong DN nhằm xây dựng, sử dụng, duy trì và phát triển một lực lư ng lao động phù h p với công việc của DN cả về số lư ng và chất lư ng.
Vai trò của quản trị nhân sự trong doanh nghiệp Thứ nhất, phát huy nhân tố con người trong hoạt động của doanh nghiệp. - Quản trị nhân sự nhằm xây dựng tố chất, phát huy nhân tố con ngƣời, vì con ngƣời vừa là chủ nhân vừa là động lực của sự phát triển. Mọi thành công hay thất bại của doanh nghiệp thì yếu tố con ngƣời có tính quyết định. Trong quá trình quản trị doanh nghiệp, việc đƣa ra các quyết định là do con ngƣời (ở đây là các lãnh đạo) việc thực hiện các quyết định cũng do con ngƣời (nhân viên trong doanhn nghiệp).
Các hoạt động nhƣ xây dựng chiến lƣợc, xây dựng hình ảnh doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, sáng tạo trong phát triển sản phẩm, marketing, thực hiện các vấn đề kiểm soát tài chính, kế toán … đều do con ngƣời thực hiện. Do đó, việc thành 7 công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào yếu tố con ngƣời, đó chính là các lao động trong doanh nghiệp. Mỗi lao động nếu phát huy hết các mặt mạnh của mình đồng thời có sự liên kết với nhau trong thực hiện các công việc thì nhanh chóng đem đến sự thành công của doanh nghiệp. Quản trị nhân sự trong doanh nghiệp chính là đảm bảo điều này luôn xảy ra và thƣờng xuyên hiện hữu trong doanh nghiệp.
Thứ hai, quản trị nhân sự làm tăng năng suất lao động, tăng l i nhuận của doanh nghiệp. Mục tiêu cơ bản của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là sử dụng có hiệu quả nhân lực nhằm tăng năng suất lao động, tăng lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên. Quản trị nhân sự tốt sẽ bố trí các lao động một cách hợp lý trong các bộ phận của doanh nghiệp, nhất là với doanh nghiệp sản xuất. Sự hợp lý ở đây đƣợc hiểu là khả năng của lao động phù hợp với công việc trong từng bộ phận.
Đồng thời, Quản trị nhân sự cũng đƣa ra các giải pháp nhằm tăng năng lực của các lao động thông qua các hình thức nhƣ đào tạo, kiểm tra, khen thƣởng, kỷ luật. Do đó, năng suất lao động sẽ tăng lên, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và đem lại nhuận cao hơn cho Doanh nghiệp. Ngƣợc lại, khi doanh nghiệp có lợi nhuận cao, quản trị nhân sự sẽ tái đầu tƣ sức lao động, khả năng lao động thông qua việc thỏa mãn các nhu cầu cần thiết của lao động. Quản trị nhân sự yếu kém, bố trí không đúng ngƣời đúng việc sẽ giảm hiệu quả sản xuất, lao động không phát huy đƣợc khả năng của mình, doanh nghiệp kém lợi nhuận và từ đó các nhu cầu của chính các lao động không đƣợc đảm bảo.
Thứ ba, quản trị nhân sự phát huy sáng tạo của cá nhân tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp. Quản trị nhân sự đảm bảo cho doanh nghiệp có lực lƣợng lao động có thể lực và trí lực tốt, có thể làm việc trong các điều kiện khác nhau, thích nghi và hội nhập mang lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi nhân lực phát triển toàn diện về các mặt trƣớc sự cạnh tranh 8 ngày càng nghiệt ngã của thị trƣờng. Quản trị nhân sự thực chất là xây dựng và thực hiện chiến lƣợc quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng và sử dụng có hiệu quả lao động.
Do đƣợc đảm bảo về thể lực và trí lực, đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng, các cá nhân trong doanh nghiệp có cơ hội, có động lực để phát huy sự sáng tạo trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đồng thời, chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch của quản trị nhân sự sẽ liên kết các cá nhân trong doanh nghiệp cũng nhƣ sự sáng tạo của họ tạo lên mối liên kết ngày càng chặt chẽ hơn. Qua đó tạo nên sức mạnh cho doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, ở đâu không quan tâm đến quản trị nhân sự thì ở đó nhân lực sẽ bị cạn kiệt không chỉ về thể lực mà cả về trí lực và tất yếu dẫn tới sự suy yếu của doanh nghiệp, làm suy yếu nội lực của doanh nghiệp trƣớc áp lực của thị trƣờng.
Thứ tư, quản trị nhân sự là một trong các nền tảng để phát huy các nguồn lực trong xã hội.