Chương 1 nhằm giới thiệu tổng quát các vấn đề nghiên cứu như: lí do chọn đề tài, các tài liệu lược khảo trong bài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp tiến hành nghiên cứu. Bên cạnh đó luận văn cũng trình bày những đóng góp mà luận văn mang lại. Ngoài ra, việc thiết kế các chương để cho luận văn có cái nhìn tổng thể khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, tạo cho người đọc dễ dàng tiếp cận luận văn. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm hành vi người tiêu dùng Khi nền kinh tế phát triển, đời sống người tiêu dùng được cải thiện, nhu cầu sử dụng các nguồn lực sẵn có ngày càng tăng.
Những giá trị do nguồn lực đem lại chiếm vị trí ngày càng quan trọng so với nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, các nguồn lực đem lại được xem là một lĩnh vực mang lại giá trị cao cho nền kinh tế. Trong thực tế đời sống hàng ngày, các hoạt động các hoạt động của các nguồn lực luôn diễn ra rất đa dạng ở khắp mọi nơi và không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của nguồn lực trong đời sống xã hội. Tuy vậy, để có một khái niệm chuẩn về hành vi người tiêu dùng dường như vẫn còn là vấn đề đang cần bàn luận thêm.
Thực tế cho tới nay vẫn còn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hành vi người tiêu dùng. Theo hiệp hội Marketing Hoa kỳ, hành vi người tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Hành vi của người tiêu dùng ảnh hưởng bởi bốn nhân tố: văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý. Theo Philip (2009), hành vi người tiêu dùng được định nghĩa: “Một tổng thể những hành động diễn biến trong suốt quá trình kể từ khi nhận biết yêu cầu cho tới khi mua và sau khi mua sản phẩm”.
Như vậy, hành vi người tiêu dùng là cách thức cá nhân ra quyết định sẽ sử dụng các nguồn lực sẵn có của họ (thời gian, tiền bạc, nỗ lực) như thế nào cho các sản phẩm tiêu dùng. Các tác Đặc Quyết định Các tác Quá trình ra nhân điểm của người mua nhân khác quyết định của Marketing người người mua mua -Sản phẩm - Kinh tế - Xã hội -Nhận thức vấn - Chọn sản -Giá - Công nghệ - Văn đề phẩm -Địa điểm - Chính trị hóa - Tìm kiếm thông - Chọn nhãn -Chiêu thị - Văn hóa - Tâm lý tin hiệu - Cá tính - Đánh giá - Chọn nơi mua - Quyết định - Chọn lúc mua - Hành vi sau -Chọn số lượng mua Hình 2.1: Mô hình hành vi tiêu dùng Nguồn: Philip (2009) 6 Tóm lại, có thể hiểu: Hành vi người tiêu dùng là nghiên cứu đặc điểm người tiêu dùng, tâm lý, nhân khẩu học và những chuyển biến nhu cầu của con người, giải thích quá trình quyết định lựa chọn hàng hóa, dịch vụ.2 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng 2.1 Các yếu tố văn hóa Văn hóa thường đươc định nghĩa là hệ thống những giá trị và đức tin, truyền thống và những chuẩn mực hành vi. Văn hóa được hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ, được truyền từ đời này qua đời khác. Văn hóa thường được hấp thụ ngay từ đầu trong đời sống gia đình, giáo dục, tôn giáo, trong công việc và bằng giao tiếp với những người khác trong cộng đồng.
Có thê xem văn hóa là nguyên nhân đầu tiên, cơ bản quyết định đến nhu cầu và hành vi của con người. Những điều cơ bản về cảm thụ, giá trị thực sự, sự ưa thích, thói quen, hành vi ứng xử mà chúng ta quan sát được qua việc mua sắm đều chứa đựng bản sắc văn hóa. Từ đó, để nhận biết những người có trình độ văn hóa cao, thái độ của họ đối với sản phẩm khác biệt so với những người có trình độ văn hóa thấp. Văn hoá Xã hội Nền văn Cá nhân hoá Các Tuổi và khoàng Tâm lý Văn hoá nhóm đời Động cơ đặc thù Gia đình Nghề nghiệp Nhận thức Tầng lớp Vai trò NGƯỜI Hoàn cành kinh tế Kiến thức MUA xã hội địa vị Cá tính và sự nhận Niềm tin và quan thức điểm Hình 2.2: Mô hình yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng Nguồn: Philip và Gary (2009) 2.2 Các yếu tố xã hội Sự tồn tại những giai cấp, tầng lớp xã hội là vấn đề tất yếu của xã hội.
Có thể định nghĩa: Giai tầng xã hội là những nhóm tương đối ổn định trong khuôn khổ xã hội được sắp xếp theo thứ bậc đẳng cấp và được đặc trưng bởi những quan điểm giá trị, lợi ích và hành vi đạo đức giống nhau ở các thành viên. Sự hình thành đẳng cấp xã hội không chỉ phụ thuộc một yếu tố duy nhất là tiền bạc mà là sự kết hợp của trình độ văn hóa, nghề nghiệp, những định hướng giá trị và những yếu tố đặc trưng khác. Địa vị của con người cao hay thấp phụ thuojc vào chỗ họ thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Với một con người cụ thể, sự chuyển đổi giai tầng xã 7 hội sẽ có khuynh hướng xử sự giống nhau, họ có những sở thích hàng hóa, nhãn hiệu sản phẩm, lựa chọ địa điểm bán hàng… 2.3 Các yếu tố cá nhân Quyết định mua sắm hàng hóa của người tiêu dùng luôn chịu ảnh hưởng lớn của những yếu tố thuộc về bản thân như tuổi tác, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, lối sống, cá tính và những quan điểm về chính bản thân mình.
Tuổi tác có quan hệ chặt chẽ đến việc lựa chọn các hàng hóa như thức ăn, quần áo, những dụng cụ phục vụ cho sinh hoạt, các loại hình giải trí… Con người thay đổi hàng hóa và dịch vụ mà họ mua sắm trong các giai đoạn trong cuộc đời họ. Những người làm marketing khi xác định thị trường mua được dựa vào việc phân chia khách hàng thành từng nhóm theo các giai đoạn của chu kỳ sống của gia đình để phát triển chính sách marketing khác nhau cho phù hợp, còn lại cần phải lưu ý những đặc trưng đời sống tâm lý có thể sẽ thay đổi qua các giai đoạn của chu kỳ sống gia đình. Nghề nghiệp có ảnh hưởng nhất định đến tính chất của hàng hóa và dịch vụ được chọn. Sự lựa chọn nữ trang, vải vóc, quần áo, giày dép các loại hình giải trí của một công nhân sẽ rất khác biệt với vị giám đốc điều hành của một công ty nơi họ làm việc.
Các nhà làm marketing cần cố gắng để nhận biết được nhóm khách hàng của họ theo nhóm nghề nghiệp nào và quan tâm đến những nhu cầu sở thích mà nhóm khách hàng trong mỗi nhóm yêu cầu. Thậm chí một công ty có thể chuyên môn hóa việc sản xuất những sản phẩm cho một nhóm nghề nghiệp nào đó. Chẳng hạn như người cung ứng có thể đưa ra các loại.3 Quá trình ra quyết định mua hàng Theo Philip (2009), Quá trình ra quyết định của người tiêu dùng trước khi đi đến quyết định mua thường phải trải qua quá trình gồm 5 giai đoạn: ý thức vấn đề, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và hành vi hậu mãi. Như vậy, quá trình mua sắm bắt đầu từ lâu trước khi mua thực sự và còn kéo dài rất lâu sau khi mua.
Nhận Tìm Đánh Quyết Hành vi biết nhu kiếm giá các định sau khi cầu thông tin lựa chọn mua mua Hình 2.3: Quá trình ra quyết định mua hàng Nguồn: Philip (2009) Tiến trình mua sắm bắt đầu bằng việc người tiêu dùng nhận thức nhu cầu và cảm thấy bị thúc đẩy giải quyết vấn đề này, họ sẽ bắt đầu tìm kiếm các thông tin cần thiết về sản phẩm từ kinh nghiệm cá nhân (thông tin bên trong) và các thông tin bên ngoài như: mối quan hệ cá nhân, bạn bè, tiếp thị, quảng cáo… Từ đó ước lượng đánh 8 giá, quyết định mua hàng hay không dựa trên những tiêu chí đã đề ra, phù hợp với sở thích, nhu cầu, khả năng chi tiêu cá nhân, gia đình. Sau khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ, người tiêu dùng sẽ so sánh mức độ hài lòng so với sự mong đợi của họ. Tuy nhiên, không phải lúc nào người tiêu dùng cũng trải qua 5 giai đoạn hoặc tiến hành một cách tuần tự theo các bước của quá trình.1 Nhận biết nhu cầu Quá trình mua hàng bắt đầu xảy ra khi người tiêu dùng ý thức được nhu cầu của họ. Theo Philip, nhu cầu phát sinh do những kích thích bên trong và bên ngoài.
- Kích thích bên trong: là các nhu cầu thông thường của con người như: đói, khát, nghỉ ngơi, an toàn, giao tiếp, được ngưỡng mộ. Chẳng hạn, một người muốn mua nhà khi chưa có nơi ở riêng, muốn ăn khi đói, muốn uống nước khi khát. - Kích thích bên ngoài: như thời gian, sự thay đổi do hoàn cảnh, môi trường, đặc tính của người tiêu dùng; những chi phối có tính chất xã hội như: văn hóa, giới tham khảo, những yêu cầu tương xứng với các đặc điểm cá nhân, những kích thích tiếp thị.2 Tìm kiếm thông tin Người tiêu dùng có nhu cầu sẽ bắt đầu tìm kiếm thêm thông tin. Ta có thể phân ra làm hai mức độ.
Trạng thái tìm kiếm tương đối vừa phải được gọi là trạng thái chú ý nhiều hơn. Thông thường, số lượng hoạt động tìm kiếm thông tin của người tiêu dùng sẽ tăng lên khi họ chuyển từ tình huống giải quyết vấn đề có mức độ sang tình huống giải quyết vấn đề triệt để. Các nguồn thông tin của người tiêu dùng được chia thành bốn nhóm. - Nguồn thông tin cá nhân: Gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen.
- Nguồn thông tin thương mại: Quảng cáo, nhân viên bán hàng, đại lý, bao bì, triển lãm. - Nguồn thông tin công cộng: Các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức nghiên cứu người tiêu dùng. - Nguồn thông tin thực nghiệm: Sờ mó, nghiên cứu và sử dụng sản phẩm. Số lượng tương đối và ảnh hưởng của những nguồn thông tin này thay đổi tuỳ theo loại sản phẩm và đặc điểm của người mua.
Mỗi nguồn thông tin thực hiện một chức năng khác nhau trong một mức độ nào đó về tác động đến quyết định mua sắm. Nguồn thông tin thương mại thường thực hiện chức năng thông báo, nguồn thông tin cá nhân thực hiện chức năng khẳng định hay đánh giá.