Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng và quản lý mạng lưới Alumni nhằm phát triển thương hiệu nhà trường; - Chương 2: Thực trạng về quản lý mạng lưới Alumni tại Khoa Quản trị kinh doanh – HSB, Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm 1999 – 2009; - Chương 3: Các biện pháp quản lý mạng lưới Alumni nhằm phát triển thương hiệu Khoa Quản trị kinh doanh – HSB, Đại học Quốc gia Hà Nội. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MẠNG LƢỚI CỰU HỌC VIÊN NHẰM PHÁT TRIỂN THƢƠNG HIỆU NHÀ TRƢỜNG 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tại Việt Nam Như một người đã từng nghiên cứu về hoạt động quản lí Alumni cho rằng: khi ta hét một tiếng thật lớn giữa lưng chừng vách núi, thì ta sẽ nhận được tiếng vang dội lại. Và mục đích của hoạt động quản lí Alumni của một cơ sở giáo dục - đào tạo cũng chính là tạo nên một tiếng vang như thế, phản ánh thương hiệu và chất lượng đào tạo của nhà trường.
Alumni là đối tượng mà bất kỳ một cơ sở giáo dục –đào tạo nào cũng sở hữu. Số lượng Alumni là gần tương đương với số lượng học viên, sinh viên, đầu vào. Như vậy, số lượng Alumni của mỗi trường, mỗi đơn vị giáo dục là rất lớn. Họ chính là: - Nguồn lực chính để nhà trường làm thống kê về chất lượng đào tạo; - Sự thành đạt trong nghề nghiệp của Alumni là một cơ sở để đánh giá uy tín của nhà trường; - Nguồn lực để giới thiệu uy tín của trường đến với các thế hệ học trò mới.
Như vậy có thể thấy lực lượng Alumni nắm giữ một vai trò quan trọng đối với nhà trường. Hiện nay các trường trên thế giới đều có một hệ thống quản lý Alumni rất tốt. Tuy nhiên, ở Việt Nam, các đơn vị giáo dục, các trường đại học chưa thực sự chú trọng đến hệ thống này. Nói cách khác, nhà trường Việt Nam mới chỉ chú trọng đầu vào mà chưa quan tâm nhiều đến đầu ra.
Theo tìm hiểu của tác giả, hiện nay ở Việt Nam chưa từng có công trình nghiên cứu về xây dựng và quản lý mạng lưới Alumni được công bố. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các lý thuyết về quản lý nhà trường, các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở vấn đề quản lý Alumni như một điều kiện đủ, nhằm phục vụ công tác thống kê, đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, tất cả những lý thuyết này mới chỉ là bước đầu đề cập.TS Đặng Quốc Bảo, một trong hai mươi công việc bao quát các vấn đề tổ chức sư phạm kinh tế - xã hội mà người hiệu trưởng cần quán triệt trong công tác kế hoạch hóa phát triển nhà trường là “Theo dõi hệ thống các thế hệ học sinh vào trường, ra trường, tổ chức mối liên hệ của nhà trường đối với học sinh đã ra trường thông qua ban liên lạc cựu học sinh nhà trường” [1]. Tuy nhiên, tác giả không phân tích cụ thể vai trò của thế hệ học sinh đã ra trường cũng như đề cập sâu đến vấn đề mối liên hệ giữa nhà trường với cựu học sinh.
Tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các vấn đề cần bao quát đối với một nhà quản lý giáo dục. Cũng trong tài liệu đó, khi đề cập đến nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường, tác giả có nêu “nhà trường tự đánh giá chất lượng giáo dục và sự kiểm định chất lượng giáo dục. Như vậy, một trong những yếu tố để triển khai việc tự đánh giá giáo dục của nhà trường, đó là việc nhận thông tin phản hồi từ chính thế hệ cựu học sinh đã tốt nghiệp” [1]. Bộ Giáo dục và đào tạo đã nêu rõ 13 điều trong quy định chung về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học Tại điều 7, tiêu chuẩn 4 – Hoạt động đào tạo có nêu rõ: “Phải có cơ sở dữ liệu về hoạt động đào tạo của nhà trường, tình hình sinh viên tốt nghiệp, tình hình việc làm và thu nhập của sinh viên sau khi tốt nghiệp”.
“Có kế hoạch đánh giá chất lượng đào tạo đối với người học sau khi ra trường và kế hoạch điều chỉnh hoạt động đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của xã hội” [11]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, trong quy định đã phần nào nêu được một trong những tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng đào tạo của giáo dục đại học là qua hệ thống Alumni. Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, đánh giá giáo dục là “sự thu thập, chỉnh lí, xử lý, phân tích một cách toàn diện, khoa học, hệ thống những thông tin về sự nghiệp giáo dục, để rồi phán đoán những giá trị của nó nhằm thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục, nâng cao trình độ phát triển của giáo dục, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng xã hội” [3]. Nhìn chung, những nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng các tiêu chí phục vụ việc đánh giá chất lượng giáo dục, coi việc quản lý người học sau khi ra trường chỉ nhằm phục vụ đánh giá chất lượng đào tạo, mà chưa phát triển được việc quản lý nguồn lực này như thế nào để góp phần làm tăng hình ảnh và uy tín của nhà trường.
Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài này nhằm đánh giá một cách đầy đủ hơn về vai trò của Alumni và đưa ra những biện pháp quản lý Alumni hữu hiệu để phát triển thương hiệu nhà trường. Phạm vi nghiên cứu là các cựu học viên của HSB. Trên thế giới Trong quá trình nghiên cứu, tác giả chưa tìm thấy tài liệu nước ngoài đề cập riêng biệt đến quản lý Alumni. Tuy nhiên, vào bất kỳ website của một trường đại học, cơ sở giáo dục - đào tạo nào cũng thấy một thư mục riêng dành cho hoạt động Alumni.
Có thể, các hoạt động này đã tồn tại từ rất lâu đối với các cơ sở giáo dục - đào tạo trên thế giới, nên ngày nay, hoạt động này tiếp tục kế thừa, phát huy và ngày một phát triển mà không cần đề cập đến lý thuyết. Theo McKinsey & Company – một công ty tư vấn chiến lược kinh doanh thành công nhất thế giới “quản lý Alumni chính là giúp cho việc duy 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trì, phát triển sự kết nối có lợi đa phương (cho cả thế hệ học viên, Alumni và nhà trường)” [13]. Tại Đại học Havard, hoạt động Alumni rất sâu rộng và phát triển. Đại học này có một trang mạng riêng dành cho cộng đồng Alumni.
Trên trang báo mạng này là một loạt sự kiện, thông tin và cơ hội cho Alumni như: cam kết hỗ trợ phát triển sự nghiệp cho Alumni; tổ chức “Năm đoàn tụ”; chương trình du lịch độc đáo chỉ dành riêng cho Alumni; và các sự kiện giao lưu khác dành cho cộng đồng Alumni của trường [19]. Đại học Monash của Hoa Kỳ cũng rất chú trọng vào việc phát triển hoạt động Alumni. Trên website của trường, Alumni có thể tìm thấy mọi hoạt động cho mình, ví dụ: - Thông tin chi tiết về Alumni (hồ sơ, học bạ, sổ điểm và các ghi chép trong thời gian còn học tập, các thông tin hiện tại). - Lịch sự kiện và chương trình hoạt động Alumni (được lên kế hoạch chi tiết cho cả năm).
- Giải thưởng Alumni xuất sắc. - Các nhà tài trợ Alumni. - Địa chỉ liên lạc của Alumni toàn cầu… [20]. Các khái niệm công cụ 1.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.
Quản lý Quản lý là một chức năng lao động – xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Quản lý là hoạt động chỉ đạo hoạt động để nhằm thực hiện mục đích của chủ thể quản lý.Marx đã lột tả được bản chất quản lý là một loại hình hoạt động lao động để điều khiểm hoạt động lao động khác khi ông viết “Tất cả mọi lao 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Như vậy, quản lý là một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trinh phát triển loài người.
Xã hội loài người càng phát triển bao nhiêu thì sự chuyên môn hoát trong lao động càng cao bấy nhiêu, càng đòi hỏi sự phát triển của hoạt động quản lý bấy nhiêu. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt.
* Khái niệm về quản lý theo các nhà nghiên cứu nước ngoài: Bắt đầu từ quản lý theo kinh nghiệm, đến thế kỷ XX đặc biệt vào những năm 40 ở phương Tây mới nghiên cứu có hệ thống vấn đề quản lý với sự xuất hiện hàng loạt công trình, như một "rừng lý luận quản lý" rậm rạp. Những lý thuyết đó được đúc kết từ thực tiễn quản lý và thể hiện các tư tưởng triết học khác nhau, phát triển qua từng giai đoạn lịch sử. Ở Trung Hoa cổ đại, tư tưởng đức trị của Khổng Tử với triết lý Đạo Nhân đã chi phối hoạt động quản lý, chủ yếu đối với việc quản lý xã hội, đất nước (“trị quốc, bình thiên hạ") bởi lẽ nền kinh tế thời đó chỉ là tiểu nông, thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ. Đến thời Chiến quốc, kinh tế khá phát triển song lại kém ổn định về chính trị - xã hội, Hàn Phi Tử đã chủ xướng tư tưởng pháp trị, coi trọng pháp chế nghiêm khắc và đề cao thuật dùng người.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các thuyết quản lý sau này kết hợp cả hai tư tưởng triết học đó để ngày càng coi trọng hơn nhân tố văn hóa trong quản lý. Và những lý thuyết này đều có những nghiên cứu dựa trên động lực làm việc cho nhân viên.