MỞ ĐẦU Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người. Ngoài yếu tố di truyền, chăm sóc sức khỏe chế độ dinh dưỡng hợp lý thì phần lớn sức khỏe phụ thuộc vào yếu tố chăm sóc vệ sinh, phòng bệnh. Vì vậy việc rèn luyện kỹ năng, thói quen vệ sinh, phòng bệnh cho trẻ là một việc làm thiết thực nhằm giúp trẻ khỏe mạnh, có thói quen vệ sinh và phòng tránh bệnh tật một cách tốt nhất. Trẻ em từ 0 đến 6 tuổi phát triển nhanh hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong cuộc đời của mỗi con người.
Vì vậy công tác chăm sóc và giáo dục vệ sinh cho trẻ mầm non là một việc rất quan trọng và cần thiết giúp trẻ có kỹ năng, nề nếp, thói quen vệ sinh, phòng tránh bệnh tật, tăng cường sức khỏe, hình thành những kỹ năng sống cơ bản đầu tiên, góp phần tạo nguồn nhân lực có chất lượng trong tương lai. Để hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em, bên cạnh việc phát hiện sớm, điều trị sớm, kịp thời và đầy đủ, công tác phòng bệnh là rất quan trọng. Muốn thực hiện tốt công tác vệ sinh, phòng bệnh cho trẻ phải có sự tham gia của các bà mẹ, sự hỗ trợ của cán bộ y tế, Ban giám hiệu Nhà trường và đặc biệt là Giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp. Trước những yêu cầu của xã hội và sự đổi mới của ngành giáo dục, để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng với nhu cầu phát triển của xã hội, vấn đề mang tính chiến lược hàng đầu là phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cả về trình độ, phẩm chất và năng lực.
Đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) nói chung, giáo viên mẫu giáo (GVMG) nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non (GDMN). Giáo dục kỹ năng vệ sinh, phòng bệnh cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một trong những nhiệm vụ giáo dục toàn diện có ý nghĩa lớn đối với sự hình hành thói quen của trẻ sau này. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, thế giới và cả nước ta đang phải chống chọi với dịch bệnh COVID – 19 diễn biến phức tạp và gây hậu quả nghiêm trọng khó lường. Vì vậy, việc nâng cao năng lực giáo dục cho đội ngủ giáo viên mầm non, giúp họ phát triển kỹ năng vệ sinh, phòng bệnh cho trẻ là việc làm vô cùng quan trọng.
Xuât phát từ những lý do trên, “Bồi dưỡng năng lực giáo dục trẻ mầm non phát triển kỹ năng vệ sinh, phòng bệnh” là một vấn đề cần quan tâm hiện nay. 1 NỘI DUNG PHẦN I. KIẾN THỨC VỀ VỆ SINH VÀ PHÒNG BỆNH A. Vệ sinh các cơ quan và hệ cơ quan 1.
Vệ sinh hệ thần kinh 1. Tổ chức chế độ sinh hoạt hợp lí là cơ sở vệ sinh hệ thần kinh 1. Tổ chức chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non a. Tổ chức giấc ngủ cho trẻ mầm non * Phương pháp tổ chức giấc ngủ cho mầm non b.
Tổ chức bữa ăn cho trẻ mầm non c. Tổ chức hoạt động học tập cho trẻ mầm non d. Tổ chức dạo chơi ngoài trời cho trẻ mầm non 1. Vệ sinh da 1.
Ý nghĩa của việc vệ sinh da 1. Các trang thiết bị vệ sinh da cho trẻ mầm non 1. Chăm sóc da cho trẻ mầm non 1. Vệ sinh mắt 1.
Giữ sạch mắt hàng ngày 1. Vệ sinh mắt khi hoạt động 1. Vệ sinh cơ quan hô hấp 1. Các biện pháp vệ sinh cơ quan hô hấp 1.
Vệ sinh cơ quan tiêu hóa và sinh dục tiết niệu 1. Vệ sinh cơ quan tiêu hóa 1. Vệ sinh cơ quan sinh dục tiết niệu 2. Tổ chức vệ sinh môi trường 2.
Vệ sinh không khí 2. Thành phần không khí trong tự nhiên 2. Đặc điểm không khí trong phòng nhóm trẻ 2. Các biện pháp vệ sinh không khí 2.
Vệ sinh nước 2. Vai trò của nước đối với đời sống 2. Tiêu chuẩn vệ sinh của nước 2. Cung cấp nước cho trường mầm non 2.
Vệ sinh mặt đất 2 2. Nguyên nhân đất bị nhiễm khuẩn 2. Những biện pháp vệ sinh mặt đất a. Xử lí nước thải b.
Vệ sinh trường mầm non 2. Chức năng của trường mầm non 2. Chế độ vệ sinh ở trường mầm non a. Chế độ vệ sinh hằng ngày b.
Chế độ vệ sinh hàng tuần c. Chế độ vệ sinh hàng tháng, quý, năm 3. Giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ mầm non 3. Khái niệm “Thói quen vệ sinh” 3.
Kỹ xảo vệ sinh 3. Thói quen vệ sinh 3. Nội dung giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ mầm non 3. Thói quen vệ sinh thân thể Các thói quen vệ sinh thân thể bao gồm: a.
Thói quen rửa mặt b.Thói quen rửa tay c. Thói quen đánh răng d. Thói quen chải tóc e. Thói quen mặc quần áo sạch sẽ 3.
Thói quen ăn uống có văn hóa vệ sinh 3. Thói quen hoạt động có văn hóa vệ sinh 3. Thói quen giao tiếp có văn hóa (Tham khảo Tài liệu BDTX năm 2018) 3 B. PHÒNG BỆNH 1.
Đại cương về bệnh trẻ em 1. Một số khái niệm về phòng bệnh a. Khái niệm về bệnh trẻ em Khi trẻ bị bệnh tức là sự lớn lên và phát triển của cơ thể trẻ có sự rối loạn, quá trình sinh học của trẻ không được bình thường. Khái niệm về phòng bệnh trẻ em Phòng ngừa bệnh là tổ chức và thực hiện các biện pháp dự phòng cho trẻ không mắc bệnh như: nuôi dưỡng đầy đủ, tiêm chủng, luyện tập sức khỏe, vệ sinh môi trường.
Đặc điểm bệnh lý trẻ em qua các thời kì phát triển a. Thời kì phát triển trong tử cung Thời kỳ này trẻ dễ bị suy dinh dưỡng bào thai. Do đó, việc bảo vệ và chăm sóc các bà mẹ khi có thai sẽ giúp thai nhi phát triển tốt. Các bà mẹ cần phải: - Khám thai định kì, ít nhất 3 lần trong suốt thời gian thai nghén.
- Thận trọng khi dùng thuốc, tránh tiếp xúc với các yếu tố độc hại. - Chế độ lao động hợp lý. - Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, đảm bảo 2400 – 2500 Kcal/ngày. Thời kì sơ sinh Thời gian: 4 tuần đầu sau sinh.
Các bệnh thường gặp: sang chấn sản khoa, ngạt sau sinh, dị tật bẩm sinh, nhiễm trùng, sinh non, các bệnh nhiễm khuẩn. Biện pháp phòng: Chăm sóc bà mẹ trước khi sinh tốt, sinh trong điều kiện vô khuẩn và giữ ấm cho mẹ và con. Đảm bảo cho trẻ bú sữa mẹ. Thời kì bú mẹ Thời gian: 1 tháng đến 1 tuổi.
Các bệnh thường gặp: Bệnh suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương, tiêu chảy cấp, các bệnh nhiễm khuẩn … Cách đề phòng: - Đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ: trẻ được bú mẹ đầy đủ, cho ăn sam đầy đủ và đúng thời điểm. - Đảm bảo tiêm phòng đầy đủ, đúng thời gian và đúng kỹ thuật. - Vệ sinh thân thể và giúp trẻ phát triển về mặt vận động. Thời kì răng sữa Do tiếp xúc rộng rãi nên trẻ dễ mắc một số bệnh lây truyền, nhưng nhờ tiêm phòng tốt nên hiện nay đã giảm rõ rệt.
Trong giai đoạn này, việc giáo dục thể chất và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển tâm sinh lí có một vai trò hết sức quan trọng. Thời kì niên thiếu (tuổi học đường) Lứa tuổi này tỉ lệ mắc bệnh và tử vong thấp hơn hẳn so với các lứa tuổi trước. Vấn đề tai nạn là mối lo ngại hàng đầu đối với trẻ em ở các nước đang phát triển. Thời kì dậy thì 1.
Tình hình bệnh tật và tử vong ở trẻ em 1. Tình hình mắc bệnh ở trẻ em trong những năm gần đây a. Tình hình mắc bệnh ở trẻ em trên thế giới - Ở các nước phát triển, trẻ em thường mắc các bệnh do dị tật bẩm sinh, ung thư, còn các bệnh nhiễm trùng và do thiếu dinh dưỡng không đáng kể. - Ở các nước đang phát triển, trẻ em thường mắc các bệnh do nhiễm trùng và thiếu dinh dưỡng, các bệnh truyền nhiễm, các bệnh do kí sinh trùng.
Tình hình mắc bệnh ở trẻ em Việt Nam - Trẻ em Việt Nam thường bị mắc bệnh như: bệnh suy dinh dưỡng, bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, bệnh tiêu chảy, các bệnh truyền nhiễm. Tình trạng tàn tật ở trẻ em - Nguyên nhân: có nhiều nguyên nhân, có thể xếp vào 2 nhóm lớn: nhóm bẩm sinh di truyền và nhóm nguyên nhân mắc phải. - Các dị tật mắc phải có thể xảy ra trước khi sinh, trong khi sinh và cả sau khi sinh, liên quan đến sự nghèo đói, thiếu kiến thức trong việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em như: + Trong thời kì mang thai, người mẹ bị thiếu ăn sẽ đẻ non hoặc đẻ con thiếu cân => nguyên nhân làm cho não của trẻ kém phát trển. + Do nuôi dưỡng trẻ không đúng cách gây ra suy dinh dưỡng.
+ Do vệ sinh kém, điều kiện sống chật chội. + Trẻ không được tiêm chủng đầy đủ các bệnh như: bại liệt, bạch hầu, uốn ván. + Trẻ bị mù do thiếu vitamin A hoặc chậm phát triển tinh thần do thiếu iot trong bữa ăn của trẻ và do bà mẹ không dùng muối iot trong khi mang thai. + Do tai nạn.
+ Do sử dụng thuốc bừa bãi, tiếp xúc nhiều với các chất độc hại. Tình hình tử vong ở trẻ em a. Tình hình tử vong của trẻ em trên thế giới - Tỉ lệ tử vong dưới 1 tuổi còn rất cao. Nguyên nhân tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát - Nguyên nhân tử vong chủ yếu là suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm khuẩn, trong đó đứng đầu là nhiễm khuẩn hô hấp cấp (25%), tiêu chảy (23%), uốn ván sơ sinh (5%).
Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em 5 1. Định nghĩa về sức khỏe Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa về sức khỏe: “sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải thuần túy chỉ là tình trạng không có bệnh tật”. Sự cấp thiết của chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em - Các bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng là những bệnh phổ biến, là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi. - Đa số các bệnh này có thể đề phòng và chữa khỏi bằng các biện pháp đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả.
Nội dung chính của chương trình GOBIFFF - Theo dõi biểu đồ tăng trưởng. - Bù nước bằng đường uống. - Đảm bảo cho trẻ được bú sữa mẹ. - Tiêm phòng - Kế hoạch hóa gia đình - Cung cấp đầy đủ thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em.