Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO NÔNG DÂN TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Thực tế hiện nay, các nước phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Nước Mỹ, Australia, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore. Để sử dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như sử dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực. Vào giữa những năm 60, ở Cộng hòa Pháp, một chính sách quốc gia đầu tiên mang tên Plan de Cancul đã được đề xuất dưới thời Tổng thống Đờ Gôn (De Gaullé). Từ những năm 1972, ở Nhật Bản, một chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin – mục tiêu quốc gia đến năm 2000” đã được xây dựng và công bố.
Năm 1980, ở Đài Loan,chính sách tin học đã được công bố và “Kế hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài Loan” đã đề cập đến cấu trúc tổ chức của CNTT trong nước và những nội dung mà chính phủ cần làm để phát triển CNTT, tiếp tục khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường thế giới. Năm 1981, Singapore thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ. Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học. Ba là, phát 8 triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore.
Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó. Năm 1989, Philippin công bố kế hoạch CNTT Quốc gia (NTTP) của Philippin, xác định một chiến lược chung nhằm đưa CNTT trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong những năm 90. Ở Việt Nam Ở Việt Nam cũng đã có chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000) và Đề án thực hiện về CNTT tại các cơ quan Đảng (2003-2005) ban hành kèm theo Quyết định 47 của Ban Bí thư trung ương Đảng. Mặt khác, tại các cơ quan quản lí nhà nước đã có Đề án tin học hoá quản lí hành chính nhà nước (2001-2005) ban hành kèm theo Quyết định số: 112/2001/QĐ - TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
Chỉ thị 58/CT - TƯ ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng phát triển CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Gần đây các hội nghị, hội thảo hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học về CNTT đều có đề cập đến nhiều vấn đề như: - Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT 2/2003. - Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ hai về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT 9/2004. Năm 2011, Bộ Thông tin và Truyền thông ra quyết định số 357/QĐ- BTTTT phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin và truyền thông vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020.
Bên cạnh đó, trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lí đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT. Nhìn chung các nước trên thế giới đều đánh giá cao về vai trò của CNTT đối với sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội. Nhiều dự án, chương trình, công trình nghiên cứu về CNTT, ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực khác nhau đã 9 được nghiên cứu, thực hiện trong những năm qua. Tuy nhiên, cho đến nay, bồi dưỡng kĩ năng sử dụng CNTT cho nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn là vấn đề còn bỏ ngõ.
Đây là một trong những lí do cơ bản đề tác giả luận văn lựa chọn nghiên cứu về vấn đề này. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Bồi dưỡng Theo Từ điển Giáo dục học “bồi dưỡng là trang bị thêm các kiến thức, kĩ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể” [15]. Đó là một giai đoạn và một hình thức của giáo dục.
Ngày nay ai cũng hiểu rằng dạy học, đào tạo, bồi dưỡng, học tập, huấn luyện, và tất cả những cách thức khác có mục đích phát triển con người đều do giáo dục. Tuy nhiên có sự phân biệt tương đối trong hoạt động quản lí giáo dục. Quá trình đào tạo và quá trình bồi dưỡng đều là quá trình giáo dục, nhưng lại khác nhau cơ bản ở chỗ: “đào tạo” là một quá trình dạy học thực hiện trong thời gian xác định với nội dung chương trình đào tạo hệ thống từ đầu đến hoàn chỉnh một sản phẩm đào tạo; còn “bồi dưỡng” là quá trình dạy học để bổ sung, hoặc nâng cao những KN còn thiếu hoặc còn yếu, mang tính cập nhật và đề cập trực tiếp đến nội dung bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ. Thời gian cho một khóa học bồi dưỡng ngắn, tùy thuộc vào yêu cầu, điều kiện cụ thể của khóa học.
Luận văn sử dụng khái niệm “bồi dưỡng” theo nghĩa sư phạm và phát triển nguồn nhân lực. Đó là quá trình huấn luyện, giảng dạy, hướng dẫn khuyến khích học viên học tập, rèn luyện, lĩnh hội được những tri thức, KN và giá trị tương ứng phù hợp với mục tiêu phát triển nghề nghiệp của họ trên cơ sở trình độ đào tạo. Theo tác giả Nguyễn Minh Đường “Bồi dưỡng có thể coi là một quá trình cập nhật kiến thức và kĩ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường xuyên được xác định bằng một chứng chỉ”[12]. Qua các quan điểm trên, có thể hiểu: Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung kiến thức kĩ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực chuyên 10 môn nào đó, giúp con người mở mang hoặc nâng cấp hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công việc đang làm.
Khái niệm Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng. Có thể hệ thống thành hai dòng quan niệm chủ yếu sau đây: * Quan niệm thứ nhất: Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác, của hành động. Đại diện quan niệm này có các tác giả: - A. Krutexki cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật, những phương thức đúng đắn”[23].
Theo ông, con người chỉ cần nắm vững phương thức hành động là có kỹ năng, không cần quan tâm đến kết quả của hành động. - Tác giả Trần Trọng Thủy cũng đồng quan điểm với A. Ông cho rằng “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm vững cách hành động tức là nắm vững kỹ thuật hành động là có kỹ năng” [37]. - Tác giả Hà Nhật Thăng thì cho rằng “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, thể hiện ra các thao tác của hành động” [36].
* Quan niệm thứ hai: xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người. Theo quan niệm niệm này, kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của năng lực của con người, đồng thời có tính đến kết quả của hành động. Quan niệm này cho rằng, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo và vừa có tính mục đích. Đại diện cho quan niệm này có các tác giả sau: - Trong từ điển Tâm lý học [11], tác giả Vũ Dũng cho rằng “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”.
11 - Theo từ điển Giáo dục học thì “Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [15].D Levitov cho rằng “ Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn, bằng cách lựa chọn và sáp dụng những cách thức đúng đắn, có chiếu cố đến những điều kiện nhất định” [24]. Theo tác giả, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Ông cho rằng, để hình thành kỹ năng, con người không chỉ nắm lí thuyết về hành động, mà còn phải biết vận dụng lí thuyết đó vào thực tế. Ruđich cho rằng “Kỹ năng là tác động mà cơ sở của nó là sự vận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt được kết quả trong một hình thức hoạt động cụ thể” [34].
Như vậy, từ việc tìm hiểu về hai xu hướng trên chúng ta có thể nhận thấy rằng: Về mặt hình thức diễn đạt, hai xu hướng trên có vẻ khác nhau, tuy nhiên, về thực chất thì chúng hoàn toàn không mâu thuẫn hay phủ định lẫn nhau. Chúng chỉ khác nhau ở chỗ mở rộng hay thu hẹp phần cấu trúc của kỹ năng và những đặc tính của chúng. Các nhà Giáo dục học cũng phân kỹ năng thành hai loại: kỹ năng bậc 1 và kỹ năng bậc 2. - Kỹ năng bậc 1 là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ Muốn có kỹ năng, trước hết phải có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết về nội dung công việc mà kỹ năng hướng vào và tri thức về bản thân kỹ năng cũng như quy trình luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện một hành động đúng với mục đích yêu cầu đề ra.
Loại kỹ năng này thông qua luyện tập đến mức hoàn hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hóa, không cần có sự hiện diện của ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít 12 thì biến thành kỹ xảo. Loại kỹ năng này như: kỹ năng viết, kỹ năng đi xe đạp, kỹ năng đan len.