Chương 1: Những vấn đề chung về phát triển dịch vụ tư vấn của cơ quan quản lý Nhà nước Chương 2: Thực trạng dịch vụ tư vấn ở Cục tin học hóa Bộ TT&TT Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển dịch vụ tư vấn của Cục Tin học hóa. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TƢ VẤN CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC 1.1 Khái quát về dịch vụ tƣ vấn của cơ quan quản lý Nhà nƣớc 1.1 Khái quát về dịch vụ tư vấn Khái niệm dịch vụ tƣ vấn Từ xa xưa, hoạt động tư vấn đã tồn tại trong các triều đại phong kiến ở Châu Á, Châu Âu với chức danh ngự sử, quân sư hay hội đồng tư vấn. Thời kì đó, các bậc quân sư giúp các đế vương xây dựng đất nước qua những ý kiến tư vấn trên các phương diện chính trị, quân sự, xã hội. Sự thành bại của mỗi vương triều nào đó phụ thuộc vào tài đức của các vị quân sư này.
Bước sang thế kỷ 19, hoạt động tư vấn đã thâm nhập sang lĩnh vực kinh tế và dần trở thành một loại hình dich vụ cao cấp. Tại các nước phát triển, dịch vụ tư vấn đã góp phần không nhỏ vào sự thành công của các doanh nghiệp và nghề tư vấn đã trở thành một trong những nghề danh giá nhất. Còn tại các nước đang phát triển, nhu cầu về loại hình dịch vụ này đang ngày càng tăng và trong tương lai hứa hẹn sẽ là loại dịch vụ chiếm ưu thế. Vậy dịch vụ tư vấn là gì? Để hiểu thế nào là dịch vụ tư vấn thì trước hết cần phải hiểu thế nào là tư vấn? Khái niệm về tư vấn Theo từ điển Tiếng Việt thì tư vấn là “việc góp ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định” (Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Tr.
Theo cách giải thích này, có thể hiểu tư vấn đơn thuần là việc đưa ra ý kiến về một vấn đề khi có yêu cầu mà không nêu cụ thể đó là loại ý kiến nào: ý kiến ở dạng đánh giá, nhận định hay bao gồm cả ý kiến nhằm giải quyết vấn đề? Nếu hiểu theo cách này thì một lời nhận xét về một sự vật hiện tượng cũng được coi là tư vấn. Theo tác giả, đây thực sự là một quan điểm chưa chính xác về tư vấn. 8 Khái niệm về tư vấn còn được đề cập trong Nghị định số 87/2002/NĐ-CP, ngày 05/11/2002 về hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ tư vấn của Chính phủ. Theo điều khoản 1, điều 5 của Nghị Định này thì “hoạt động tư vấn là hoạt động thu nhập, xử lí thông tin, vận dụng kiến thức chuyên môn, phát hiện vấn đề, đề xuất các giải pháp, phương án, lập dự án và giám sát, đánh giá do các tổ chức chuyên môn, cá nhân Việt Nam thực hiện độc lập, khách quan theo yêu cầu của người sử dụng tư vấn”.
Chúng ta có thể nhận thấy rõ định nghĩa này thiên về việc mô tả, liệt kê các công việc của hoạt động tư vấn chứ chưa nêu được những đặc điểm khái quát nhất của hoạt động này. Để hiểu thêm về tư vấn, chúng ta có thể xem xét một khái niệm nữa trong cuốn từ điển Oxford: Tư vấn (tiếng Anh là Consulting hay Advising) là hoạt động cung cấp lời khuyên cho lĩnh vực chuyên môn và được trả phí (The Oxford Modern English Dictionary, NXB Văn Hóa Thông tin, 2004, Tr. Nhìn nhận từ quan điểm này thì tư vấn là một hoạt động chuyên nghiệp (chuyên đưa ra những lời khuyên trong một lĩnh vực chuyên môn cụ thể) và là một hoạt động mang tính thương mại (có thu phí). Như vậy, tư vấn là một loại hình dịch vụ mà sản phẩm là các lời khuyên.
Để có được những lời khuyên đúng đắn thì người tư vấn phải có kiến thức sâu rộng về vấn đề mình tư vấn; cho nên có thể nói tư vấn là hoạt động mang tính trí tuệ. Trong thực tiễn của hoạt động tư vấn, nhà tư vấn còn giúp khách hàng thực hiện lời khuyên đó bằng cách đề ra những phương án và biện pháp thực hiện. Như vậy, có thể định nghĩa dịch vụ tư vấn như sau: Dịch vụ tư vấn là một dich vụ trí tuệ, một hoạt động chất xám, cung ứng cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó và được trả phí. Dịch vụ tư vấn được cung ứng bởi cơ quan QLNN có điểm khác biệt so với dịch vụ tư vấn nói chung.
Đây là loại hình được cơ quan QLNN cung ứng nên sẽ phải đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Mặt khác, kinh phí thực hiện hoạt động tư vấn thường sẽ được lấy từ ngân sách Nhà nước mà không thu phí trực tiếp của đối tượng được được tư vấn. Căn cứ vào khái niệm của dịch vụ 9 tư vấn và những điểm khác biệt dịch vụ tư vấn được cung ứng bởi cơ quan QLNN, quan điểm của tác giả về dịch vụ tư vấn của cơ quan QLNN trong phạm vi luận văn như sau: Dịch vụ tư vấn của cơ quan QLNN là một dich vụ trí tuệ, một hoạt động chất xám cung ứng cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó nhằm mục tiêu chính trị, xã hội của Nhà nước trong một thời kỳ nhất định và nguồn kinh phí tư vấn được lấy từ ngân sách Nhà nước. Bản chất của dịch vụ tƣ vấn Tư vấn là một hoạt động trí tuệ, là loại hình dịch vụ chất xám điển hình.
Sản phẩm của tư vấn là những lời khuyên, kết quả của một loạt các hoạt động nghiên cứu, xử lí thông tin, đánh giá và xây dựng các phương án trên nền tảng cơ sở kiến thức uyên thâm và bề dày kinh nghiệm của các chuyên gia. Hoạt động tư vấn thực chất là quá trình nhà tư vấn vận dụng tri thức của mình để giúp khách hàng giải quyết vấn đề. Còn đối với các khách hàng thì sử dụng dịch vụ tư vấn chính là quá trình sử dụng tri thức của nhà tư vấn. Có thể nói tri thức đã trở thành một đối tượng kinh doanh trong dịch vụ tư vấn.
Về bản chất, tư vấn là dịch vụ cho lời khuyên. Điều này có nghĩa là người tư vấn không được trực tiếp tham gia điều hành, quản lý, đưa ra các quyết định mà họ chỉ là những người đưa ra lời khuyên và không có quyền trực tiếp quyết định các thay đổi và thực hiện chúng. Trách nhiệm của người tư vấn là chất lượng và sự đúng đắn trong lời khuyên. Khách hàng là người chịu trách nhiệm về toàn bộ về những gì sinh ra lời khuyên ấy.
Tất nhiên, trong thực tế tư vấn có nhiều biến thể và mức độ lời khuyên. Không chỉ đưa ra lời khuyên đúng, mà còn đưa ra biện pháp đúng và đúng lúc – đây chính là nghệ thuật và kỹ năng cơ bản của người tư vấn. Khách hàng cần phải khéo léo để tiếp nhận và sử dụng lời khuyên của người tư vấn để đạt được kết quả cao nhất. Vai trò của dịch vụ tƣ vấn Vai trò cố vấn Vai trò cố vấn của hoạt động tư vấn thể hiện trước hết ở việc xác định vấn đề.
10 Hay nói một cách hình ảnh thì đây chính là quá trình “khám bệnh”. Trong sản xuất kinh doanh luôn có những vấn đề nảy sinh đòi hỏi phải được giải quyết nhưng để giải quyết được các vấn đề này trước hết cần phải biết đó là vấn đề gì. Đôi khi chúng ta có thể nhìn nhận thấy ngay vấn đề mình gặp phải nhưng rất khó có thể biết được đâu là vấn đề chính hay vấn đề đó đã là chính xác chưa. Là người có kiến thức chuyên sâu nên nhà tư vấn có khả năng nhìn thấu suốt vấn đề và do đó có thể giúp doanh nghiệp nhận dạng vấn đề và chỉ ra vấn đề chính yếu và quan trọng nhất.
Không chỉ dừng lại ở đó, vai trò của nhà tư vấn còn thể hiện ở việc đưa ra những lời khuyên đúng đắn và thích hợp nhất để giải quyết vấn đề. Đối với mỗi vấn đề thường có nhiều phương án khác nhau để giải quyết, nhà tư vấn sẽ là người xây dựng các phương án và chỉ ra đâu là phương án tối ưu nhất. Vì những kiến nghị của các nhà tư vấn dựa trên những phân tích khoa học và những nhận định khách quan nên rất đáng tin cậy. Sau khi “khám bệnh” thì đến quá trình “kê đơn thuốc” chữa bệnh.
Vai trò hỗ trợ Vai trò hỗ trợ hoạt động kinh doanh của hoạt động tư vấn thể hiện rất rõ trong các lĩnh vực tư vấn quản lí, tư vấn tài chính, tư vấn pháp lí… Khi tiến hành hoạt động kinh doanh thì có rất nhiều vấn đề cần giải quyết. Nếu tự làm tất cả mọi việc thì khó mà đảm bảo hiệu quả và chất lượng công việc. Nhờ có các hãng tư vấn mà các quyền lợi của khách hàng được bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra hay tránh được những rắc rối liên quan đến vấn đề pháp luật. Có thể nói nhờ có hoạt động tư vấn các doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả kinh doanh và tích lũy được vốn để đầu tư và phát triển.
Lợi ích của việc sử dụng dịch vụ tƣ vấn Là một dịch vụ mang tính trí tuệ nên những lợi ích to lớn mà tư vấn mang lại không phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy một cách trực tiếp và rõ ràng được. Giá trị do dịch vụ tư vấn mang lại đôi khi chỉ có thể xác định được sau một thời gian nhất định. Biết sử dụng và khai thác tốt dịch vụ tư vấn thì có thể có được những lợi ích sau: 11 Tiết kiệm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh Khi sử dụng dịch vụ tư vấn chúng ta sẽ chỉ phải trả một khoản nhất định cho một số công việc chuyên biệt đòi hỏi những kiến thức tổng hợp, kinh nghiệm chuyên sâu vào những thời điểm nhất định mà không cần phải hình thành một bộ phận chức năng hoạt động thường xuyên nằm trong cơ cấu tổ chức bộ máy. So với chi phí bỏ ra để tuyển dụng, đào tạo, duy trì một bộ phận chuyên trách thấp hơn chi phí trả cho các nhà tư vấn đồng thời không tinh giản được bộ máy và gây khó khăn cho công tác quản lí.