CHƯƠNG 1: BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT VÀ NHỮNG LÍ THUYẾT LIÊN QUAN 1. Biểu tượng Biểu tượng là một phương thức tư duy chỉ có ở con người. Nguồn gốc hình thành của nó phải xét trên sự hình thành con người. Trải qua hàng triệu năm tiến hóa, nhờ vào quá trình lao động, con người làm ra nghệ thuật, trong đó có văn chương.
Muốn tìm hiểu thật sâu sắc biểu tượng, chúng tôi nghĩ phải lần theo mối quan hệ biện chứng giữa tư duy và ngôn ngữ. Biểu tượng giúp con người lưu giữ hình ảnh mình quan sát được trong cuộc sống, đi liền quá trình hình thành ngôn ngữ ở con người, tức là với quá trình tư duy. Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, nó ra đời khi con người muốn trao gửi một thông điệp cho nhau. Để khái quát thông điệp, tư duy phải biểu đạt sự vật dưới lớp vỏ ngôn ngữ.
Theo Marx ngôn ngữ, “là sự ý thức hiện thực” bởi, “ý nghĩa phải được cấu thành trước hết dưới một hình thức khách quan trong sự vận động của ngôn ngữ, nổi bật ra trực tiếp từ những mối quan hệ của đời sống xã hội”[49, 45]. Do đó tìm mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ phải đi vào hiện thực đời sống. Buổi ban đầu loài người chưa có ngôn ngữ, họ phải nhờ vào những cử chỉ, chỉ dẫn bằng hình thể để trao đổi thông điệp cho nhau. Do đó biểu tượng có xuất phát điểm là cử chỉ.
Cử chỉ đánh dấu sự hiện diện của chủ thể trong đời sống hiện thực. Và, nhờ vào các giác quan bên ngoài, đặc biệt là thính giác và thị giác, chúng góp phần hình thành nên cảm giác, đem lại nhận thức cảm tính đầu tiên về sự vật, giúp con người có ấn tượng ban đầu về sự vật. Để lưu giữ những cảm giác có được ấy vào trí não mình, loài người cần một tư duy cao hơn, tri giác xuất hiện. Tri giác tổng hợp các cảm giác về sự vật, đưa đến khả năng nhận thức sự vật một cách sâu sắc.
Nhưng tri giác vẫn chưa giúp loài người nhận ra bản chất sự vật, do đó tư duy cần một bước tiến nữa, lúc này biểu tượng được hình thành. Biểu tượng giúp nhận thức khu biệt được những đặc trưng cơ bản của sự vật. Trong giai đoạn thứ ba này, sự vật hiện ra tương đối hoàn chỉnh. Bởi biểu tượng có sự tham gia của các hoạt động giác quan cùng sự tổng hợp, phân loại của tư duy.
Theo Lenin, con đường nhận thức chân lí của loài người luôn đi, “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng quay trở về thực tiễn”. 16 Trên con đường ấy, con người phải có một công cụ đi cùng tư duy là ngôn ngữ. Tư duy và ngôn ngữ luôn dính chặt với nhau như hai mặt của một tờ giấy. Chúng thống nhất và biện chứng trong nhau.
Biểu tượng với tư cách là một phương thức của tư duy không thể không xét nó trên gốc nghĩa ngôn ngữ. Biểu tượng (Symbol) theo nghĩa từ nguyên là một vật được cắt làm đôi, mang đặc tính hai mặt: “Biểu tượng chia ra và kết lại với nhau, nó chứa hai ý tưởng phân li và tái hợp, nó gợi lên ý một cộng đồng, đã bị chia tách và có thể tái hình thành. Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ vừa là kết nối những phần của nó lại với nhau” [10, XXIII]. Mỗi biểu tượng luôn có hai mặt, một mặt được trưng ra và một mặt bị dấu đi, cho nên biểu tượng là thuật ngữ mang bản chất khó xác định và vô cùng sống động.
Tuy vậy nó vẫn có dấu hiệu nhận diện: “Chính là ở chỗ nó tổng hợp trong một biểu hiện dễ cảm nhận tất cả những ảnh hưởng ấy của vô thức và ý thức cùng các sức mạnh bản năng và trí tuệ, xung đột lẫn nhau hay đang trong tiến trình hài hòa bên trong mỗi con người”[10, XV]. Biểu tượng là sự kết tinh của quá trình tư duy hàng nghìn năm của nhân loại. Đồng thời nó cũng chịu sự ảnh hưởng của văn hóa cộng đồng nơi nó ra đời, nên cần xét thuật ngữ này trên nhiều phương diện. Với tâm lí học và triết học, biểu tượng, “khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào trong các giác quan ta đã chấm dứt”[44, 223].
Còn với ngôn ngữ học, biểu tượng được hiểu như một phép chuyển nghĩa dựa trên cơ chế của hai mặt là cái biểu trưng và cái được biểu trưng. Từ những tìm hiểu về nguồn gốc của biểu tượng, chúng tôi nghĩ đây là một thuật ngữ mở, mang tính khơi gợi và rất khó cố định vào những nghĩa duy nhất. Bởi biểu tượng bắt nguồn từ đời sống hiện thực, hình thành bởi tư duy con người, vận động cùng thời gian và tồn tại trong không gian văn hóa của cộng đồng sử dụng nó. Do đó cần hiểu biểu tượng như một sinh thể phức tạp, đa nghĩa và tùy vào từng ngành khoa học mà có sự khu biệt nghĩa riêng về khái niệm “biểu tượng”.
Với văn học, “biểu tượng theo nghĩa rộng là sự phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật, nhưng nó có cội nguồn trong tâm thức của văn hóa nhân loại biểu tượng tồn tại trước một văn bản cụ thể và không phụ thuộc vào nó. Biểu tượng rơi vào ký ức nhà văn từ chiều sâu của kí ức văn hóa và được làm sống lại trong văn bản mới, như một hạt giống đánh rơi vào lòng đất. Sự gợi nhớ chuyện cũ, trích dẫn hay gợi nhắc đều là bộ phận hữu cơ của văn bản mới, thực hiện chức năng trong bình diện đồng đại. Chúng đi 17 từ văn bản vào chiều sâu của kí ức, còn biểu tượng thì đi từ ký ức vào văn bản”[21, 314].
Ngoài ra nếu nhìn theo nghĩa hẹp thì: “Biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hình tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng, hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời”[21, 315]. Từ các khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy vài phương diện chính yếu về bản chất của thuật ngữ biểu tượng. Trước hết biểu tượng mang tính hai mặt, nó bao hàm trong bản thân hình ảnh biểu hiện ra bên ngoài và hình ảnh được ẩn dấu bên trong. Biểu tượng có tính dấu hiệu, nó được bắt nguồn từ những cử chỉ bên ngoài của con người và hình ảnh mà biểu tượng lưu giữ luôn bắt nguồn từ hiện thực đời sống.
Biểu tượng không loại bỏ ý nghĩa cụ thể, cảm tính của vật tượng trưng hay của hình tượng nghệ thuật. Ý nghĩa của nó tồn tại cả trong và ngoài văn bản bởi quá trình sinh nghĩa của mỗi biểu tượng luôn thường gắn với chiều dài văn hóa lịch sử, gắn với quá trình hình thành quan niệm về thế giới của con người cổ xưa. Mỗi biểu tượng đi vào văn bản nghệ thuật tự bản thân nó đã mang trong mình ngôn ngữ văn hóa, mã thời đại và toàn bộ sức nặng ngữ nghĩa mà nó tính lũy được qua nhiều thế kỷ. Do đó biểu tượng bao giờ cũng mang tính mở.
Là một phạm trù lịch sử, biểu tượng chịu sự chi phối của ngôn ngữ, tâm lí, quan niệm của dân tộc và thời đại. Do đó biểu tượng chứa vô thức tập thể. Biểu tượng được cấu trúc trong trí tưởng tượng của con người, nó làm biến dạng các sao chép thực dụng do tri giác cung cấp, cải tạo các cảm giác cho nên biểu tượng có “sức vang cốt yếu và tự sinh”. Nghĩa là nó vừa biểu hiện vừa che đậy, vừa thiết lập vừa tháo dở, nó là một dạng thức gây xúc động vì nó có thể tác động đến cấu trúc tinh thần của con người, bởi tính chất ảnh – động lực của nó mà có lần C.Jung gọi đó là những mẫu gốc.
Chúng là vật nối liền cái phổ quát với cái cá thể. Những biểu tượng luôn có tính động, chúng không đứng riêng một mình mà có xu hướng kết hợp với những biểu tượng khác tạo thành hệ biểu tượng. Lacan, “hệ biểu tượng chỉ loại hiện tượng mà khoa phân tâm học quan tâm trong chừng mực chúng được cấu trúc như một ngôn ngữ”[10, VXI]. Có thể thấy, hệ biểu tượng là tập hợp cấu trúc, cách xếp đặt các biểu tượng và tìm hiểu nghĩa của biểu tượng cần đặt biểu tượng trong hệ biểu tượng.
18 Biểu tượng là một phạm trù siêu nghiệm, nghĩa là nó chứa đựng sự bí ẩn khôn cùng nên phải tiếp nhận biểu tượng với tất cả trí tuệ lẫn tâm hồn, như Eliade đã phát biểu: “Khuynh hướng biểu tượng là một dữ kiện tức thì của con người toàn vẹn, tức là của con người bộc lộ đúng mình. Con người ý thức được vị trí của mình trong vũ trụ; những khám phá hàng đầu đó gắn liền với tấn bi kịch của con người cho đến nỗi chính khuynh hướng biểu tượng đó quyết định cả hoạt động tiềm thức lẫn những biểu hiện cao cả nhất trong đời sống tinh thần của nó”[10, XXVI]. Đi vào tìm hiểu biểu tượng, buộc người nghiên cứu phải có thái độ dấn thân bởi đặc tính của biểu tượng, “mãi mãi gợi cảm đến bất tận: mỗi người thấy ở đấy cái mà năng lực thị giác của mình có thể nhận ra. Thiếu sự thâm thúy sẽ chẳng nhận ra được cái gì cả”[10, XXVI].
Quá trình giải mã biểu tượng, chúng ta phải nhận thấy rằng nếu sử dụng những công cụ khoa học sẽ có nguy cơ làm: “Đông cứng nghĩa của biểu tượng, nếu ta không nhấn mạnh đến tính chất tổng thể tương đối, cơ động và có tính cá thể hóa của nhận thức biểu tượng”[10, XXVI]. Nên, “lối phân tích bằng cách cắt vụn và đập nhỏ ra không thể nắm bắt được sự phong phú của biểu tượng; trực giác không phải bao giờ cũng đạt được điều đó; phải tổng hợp và đồng cảm hết mực, nghĩa là chia sẻ và cảm nghiệm một cái nhìn nào đó về thế giới”[10, XXVII]. Cái nhìn nhất lãm sẽ không thể nào nắm bắt được trọn vẹn và đầy đủ ý nghĩa của biểu tượng, bởi biểu tượng có tính đa trị, tính đồng thời của những ý nghĩa nó gợi lên. Rõ ràng mỗi biểu tượng là một thế giới vĩ mô trong một hình ảnh vi mô, phải cảm nhận và phân tích nó trên bình diện của vũ trũ lẫn bình diện của ý thức cá nhân.