Luận văn thạc sĩ về biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay biểu thức ngôn ngữ thề trong một số tác phẩm văn xuôi việt nam thế kỉ xx, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2020

112
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.1.1. Lí do khách quan

1.1.2. Lí do chủ quan

1.2. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1. Mục đích nghiên cứu

1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của luận văn

1.5.1. Về mặt lí luận

1.5.2. Về mặt thực tiễn

1.6. Bố cục của luận văn

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Khái quát tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ

1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các tác giả nước ngoài
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các tác giả trong nước

3. CHƯƠNG 2: BIỂU THỨC NGÔN NGỮ THỀ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM THẾ KỈ XX NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN LÍ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ

4. CHƯƠNG 3: BIỂU THỨC NGÔN NGỮ THỀ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM THẾ KỈ XX NHÌN TỪ LÍ THUYẾT HỘI THOẠI VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGỮ LIỆU THỐNG KÊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam

Biểu thức ngôn ngữ thề là một phần quan trọng trong giao tiếp và văn học Việt Nam thế kỷ XX. Chúng không chỉ thể hiện sự cam kết mà còn phản ánh văn hóa và tâm lý xã hội của con người. Nghiên cứu về biểu thức này giúp hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ và văn hóa tương tác với nhau trong bối cảnh lịch sử cụ thể.

1.1. Khái niệm biểu thức ngôn ngữ thề

Biểu thức ngôn ngữ thề được định nghĩa là những phát ngôn thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của người nói. Chúng thường được sử dụng trong các tình huống giao tiếp chính thức và mang tính chất nghiêm túc.

1.2. Vai trò của biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi

Trong văn xuôi, biểu thức ngôn ngữ thề không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật. Chúng giúp làm nổi bật tính cách và động cơ của nhân vật trong tác phẩm.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ thề, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được khai thác triệt để. Các nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong việc phân loại và phân tích các biểu thức này trong văn xuôi Việt Nam.

2.1. Thiếu tài liệu nghiên cứu

Số lượng tài liệu nghiên cứu về biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam còn hạn chế. Điều này gây khó khăn cho việc tổng hợp và phân tích các biểu thức này.

2.2. Khó khăn trong phân loại biểu thức

Việc phân loại các biểu thức ngôn ngữ thề theo các tiêu chí cụ thể vẫn còn nhiều tranh cãi. Các nhà nghiên cứu cần có những tiêu chí rõ ràng hơn để phân loại hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề hiệu quả

Để nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và ngữ dụng học. Những phương pháp này giúp làm rõ hơn về cách thức sử dụng và ý nghĩa của các biểu thức này.

3.1. Phương pháp thống kê và phân loại

Sử dụng phương pháp thống kê để thu thập dữ liệu về các biểu thức ngôn ngữ thề trong các tác phẩm văn xuôi. Phân loại chúng theo các tiêu chí như hình thức và nội dung.

3.2. Phân tích ngữ dụng

Phân tích ngữ dụng giúp hiểu rõ hơn về ngữ cảnh sử dụng của các biểu thức ngôn ngữ thề. Điều này giúp làm nổi bật vai trò và ý nghĩa của chúng trong giao tiếp.

IV. Ứng dụng thực tiễn của biểu thức ngôn ngữ thề trong văn học

Biểu thức ngôn ngữ thề không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Chúng giúp người học hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

4.1. Giá trị trong giảng dạy ngôn ngữ

Biểu thức ngôn ngữ thề có thể được sử dụng trong giảng dạy ngôn ngữ để giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp trong văn hóa Việt Nam.

4.2. Ảnh hưởng đến văn hóa giao tiếp

Nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề giúp làm rõ hơn về ảnh hưởng của chúng đến văn hóa giao tiếp trong xã hội Việt Nam, từ đó nâng cao nhận thức về ngôn ngữ và văn hóa.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề

Nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới. Cần tiếp tục khai thác và làm rõ hơn về vai trò của chúng trong văn học và giao tiếp.

5.1. Tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề cần được mở rộng hơn nữa, không chỉ trong văn xuôi mà còn trong các thể loại văn học khác.

5.2. Khuyến nghị cho các nhà nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu nên chú trọng đến việc thu thập dữ liệu và phân tích sâu hơn về các biểu thức ngôn ngữ thề để có cái nhìn toàn diện hơn về chúng.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay biểu thức ngôn ngữ thề trong một số tác phẩm văn xuôi việt nam thế kỉ xx

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Khái quát tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ Trong lịch sử ngữ dụng học, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ của các tác giả trong và ngoài nước. Tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các tác giả nước ngoài Về nghiên cứu hành động ngôn ngữ (có tác giả gọi là hành vi ngôn ngữ hay hành động ngôn từ) của các tác giả nước ngoài, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của hai nhà ngôn ngữ học là J.

Austin là người có công đầu trong việc xây dựng lí thuyết hành động ngôn ngữ. Lí thuyết này được thể hiện trong 12 chuyên đề giảng dạy ở trường Đại học Havard mà học trò của ông đã tập hợp lại in thành sách với nha đề “How to do things with words” (Hành động như thế nào bằng lời nói). Austin đã chỉ ra rằng, khi thực hiện một phát ngôn nào đó người ta đã thực hiện đồng thời ba hành vi: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời (hành vi tại lời). Ông tập trung nghiên cứu các hành vi tại lời và phân chúng thành 5 lớp lớn, đó là: - Lớp hành vi phán xử; - Lớp hành vi hành sử; - Lớp hành vi cam kết; - Lớp hành vi ứng xử; - Lớp hành vi trình bày.

Searle là người kế thừa và phát triển lí thuyết hành động ngôn từ của J. Để khắc phục những hạn chế của J. Searle đã đưa ra một hệ thống gồm 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn từ và cũng chia hành động ngôn ngữ thành 5 lớp cơ bản, là: - Lớp hành vi tái hiện; - Lớp hành vi điều khiển; - Lớp hành vi cam kết; - Lớp hành vi biểu cảm; - Lớp hành vi tuyên bố. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài 2 tác giả nói trên, một số nhà ngôn ngữ học người nước ngoài có tên tuổi khác như D.

đã tiếp tục tìm hiểu hành động ngôn ngữ và đưa ra quan điểm của mình. Mặc dù các công trình nghiên cứu của các tác giả này có cụ thể hơn, có những điểm mới hơn trong cách nhìn so với công trình của Austin và Searle về các tiêu chí phân loại, song có thể nói chúng đều có sự kế thừa những tiền đề lí thuyết mà hai công trình của hai ông nói trên đã đặt ra.Wierzbicka với công trình nghiên cứu mang tên “English speech act verbs - asemantic dictionary” đã phân loại hành động ngôn từ dựa trên cơ sở 270 động từ nói năng (speech act verbs). Theo đó, bà đã qui hành động ngôn từ thành 37 nhóm, tiêu biểu là: ra lệnh (oder), cầu xin (ask1), hỏi (ask2), mời gọi (call), cấm (forbid), cho phép (permit), trách mắng (reprimand), tranh cãi (argue), .Wierzbicka là trong quá trình miêu tả hành động ngôn từ, bà đã chỉ ra việc phân loại cần phải dựa và những tiêu chí của điều kiện thuận ngôn như: cương vị của người nói và người nghe; người nói dùng chiến lược nào (lí trí hay tình cảm) để hành động; người nghe có quyền từ chối việc thực hiện hành động được nêu trong nội dung mệnh đề hay không; khi công việc hoàn tất, người hưởng lợi là người nói hay người nghe. Tuy nhiên, cách phân loại hành động ngôn từ của tác giả này còn một hạn chế cơ bản là nếu chỉ dựa vào động từ nói năng để phân loại hành động ngôn từ thì có nhiều trường hợp không xác định và không giải thích được, đó là có những hành động ngôn ngữ không bao giờ cần đến động từ nói năng, như hành động chửi, hành động khen hay hành động dọa, v.

Những hành động ngôn ngữ này không bao giờ được tường minh bằng động từ ngôn hành (động từ ngữ vi) tương ứng. Điều đó cũng có nghĩa là nếu theo quan điểm của Wierzbicka thì những hành động ngôn ngữ này sẽ không được thừa nhận. Tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các tác giả trong nước Ở Việt Nam, trong vài thập kỉ cuối của thế kỉ XX, vấn đề hành động ngôn ngữ đã thu hút được khá nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Nói đến những tác giả trong nước đã dành nhiều tâm huyết cho việc tìm hiểu hành động ngôn từ không thể không nhắc đến một số tác giả tiêu biểu, như: Đỗ Hữu Châu với công trình mang tên Đại cương 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngôn ngữ học (tập 2), Nxb GD, 2001, Nguyễn Đức Dân với công trình Ngữ dụng học (tập 1), Nxb GD, 1998, Nguyễn Thiện Giáp với công trình mang tên Ngữ dụng học Việt ngữ, Nxb ĐHQG HN, 2000,.

Về cơ bản, các công trình nghiên cứu này được các tác giả trình bày dưới dạng dịch thuật, khái quát lại những thành quả nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài như tác giả Đỗ Hữu Châu không chỉ chuyển tải những quan điểm của J.Searle, nhà Việt ngữ học có tên tuổi này còn đưa ra định nghĩa về hành động ngôn ngữ (tác giả gọi là hành vi ngôn ngữ) và những khái niệm liên quan như các khái niệm: biểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi, động từ ngữ vi, phát ngôn ngữ vi tường minh và phát ngôn ngữ vi nguyên cấp, hành vi ngôn ngữ trực tiếp, hành vi ngôn ngữ gián tiếp, v. Tương tự, trong công trình của mình, tác giả Nguyễn Đức Dân ngoài việc giới thiệu những khái niệm cơ bản về ngữ dụng học và những quan điểm của J.Searle, tác giả này còn phân biệt động từ ngữ vi và động từ trần thuật, sự khác biệt giữa câu ngữ vi và câu trần thuật. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng như hai tác giả dẫn trên, đã khái quát được một số khái niệm cơ bản về ngữ dụng học trong công trình của mình. Điểm khác biệt là ông đã chú trọng vận dụng những lí luận đó vào việc phân tích, miêu tả một số hiện tượng của tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết dụng học.

Vì vậy, công trình của tác giả có phần dễ hiểu và có tính ứng dụng cao. Ngoài những công trình nghiên cứu hành động ngôn ngữ khái quát của các nhà Việt ngữ học dẫn trên, còn một số công trình đã đi sâu nghiên cứu một hoặc một số hành động ngôn ngữ nào đó. Chúng tôi xin được liệt kê một số công trình tiêu biểu (vì khuôn khổ của luận văn không cho phép, xin phép không liệt kê bài liên quan in trên Tạp chí vì có quá nhiều và cũng xin không nhận xét nội dung của các công trình sẽ dẫn dưới đây. Luận văn cũng chỉ nhắc đến khi cần thiết): 1.

Nguyễn Đức Hoạt (1995), Dấu chỉ phép lịch sự trong câu cầu khiến tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ, Melbourne, Australia; 2. Đào Thanh Lan (2010), Ngữ pháp và ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt, Nxb KHXH. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nguyễn Thị Lương (1996), Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành động ngôn từ trong tiếng Việt, Luận án TS ngôn ngữ học, Nxb ĐHSP HN.

Trần Chi Mai (2006), Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh, Luận án TS ngôn ngữ học, Nxb ĐHQG HN. Nguyễn Thị Thanh Ngân (2016), Các hành động cầu khiến tiếng Việt, Nxb ĐHQG HN. Nguyễn Thị Qui (1995), Vị từ hành động tiếng Việt và những tham tố của nó, Nxb KHXH, HN. Đặng Thị Hảo Tâm (2003), Cơ sở lí giải nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại, Luận án TS Ngữ văn, ĐHSP HN.

Lê Đình Tường (2002), Các yếu tố ngữ nghĩa của phát ngôn cầu khiến đích thực (trên tư liệu tiếng Nga và tiếng Việt), Luận án TS Ngữ văn, ĐHSP Vinh. Siriwong Hongsawan (2009), Nghiên cứu hành động bác bỏ trong tiếng Thái và tiếng Việt, Luận án TS Ngữ văn, Nxb ĐHQG HN. Ngoài những sách chuyên khảo và luận án tiến sĩ của các tác giả vừa dẫn, còn một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu hành động ngôn ngữ, như: 1. Lê Thị Thu Hoa (1996), Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng nhóm khen, tặng, chê, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội 2.

Đinh Thị Hà (1996), Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng nhóm bàn, tranh luận, cãi, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội 3. Nguyễn Thị Thái Hòa (1997), Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng nhóm khuyên, ra lệnh, nhờ, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội 4. Nguyễn Thị Ngân (1996), Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng nhóm thông tin, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội Các công trình nghiên cứu dẫn trên tuy chưa phải là tất cả nhưng cũng đủ giúp ta một lần nữa khẳng định rằng, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước nghiên cứu về ngữ dụng học nói chung, nghiên cứu về hành động ngôn ngữ nói riêng. Mỗi công trình đều có những đóng góp nhất định về mặt lí luận và thực tiễn nghiên cứu hành động ngôn ngữ.

Đối với chúng tôi, những công trình nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo phong phú và thực sự hữu ích để chúng tôi lựa chọn làm căn cứ lí luận cho đề tài. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái quát tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ lớp cam kết, nghiên cứu hành động thề và biểu thức ngôn ngữ thề trong tiếng Việt 1. Tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ lớp cam kết Theo tìm hiểu bước đầu của chúng tôi, đến nay đã có một số công trình trực tiếp hay gián tiếp bàn về các hành động ngôn ngữ thuộc lớp cam kết nói chung, xin dẫn một số công trình làm minh chứng (liệt kê theo năm công bố): (1) Vũ Thị Tố Nga (2006), Hành vi cam kết và các động từ biểu thị hành vi cam kết, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5.

(3) Vũ Thị Tố Nga (2015), Các thành phần của một biểu thức ngữ vi cam kết tường minh - Hành trình và nối tiếp, Nxb ĐHQG HN. (4) Vũ Tố Nga (2010), Sự kiện lời nói cam kết trong hội thoại, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội. (5) Phạm Thanh Mai (2019), Tìm hiểu hành động cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi Việt nam giai đoạn 1930 - 1945, Luận văn Thạc sĩ, ĐHTN Cũng như phần lớn các công trình đã dẫn ở mục 1.1, các công trình vừa dẫn chủ yếu tập trung nghiên cứu các hành động lớp cam kết về tiêu chí phân loại, hình thức thể hiện, các dấu hiệu ngôn hành hay hiệu lực ở lời, vai trò, tác dụng, v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ