phần mở đầu, lời cảm ơn, mục lục, sơ đồ bảng biều, danh sách tài liệu tham khảo khoá luận tốt nghiệp của em gồm 3 chương: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho nguồn nhân lực Chƣơng II: Thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty cổ phần Công- Nông Nghiệp Tiến Nông. Chƣơng III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tạo động cho người lao động tại Công ty cổ phần Công- Nông Nghiệp Tiến Nông. 9 CHUƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Bản chất của tạo động lực 1.
Các khái niệm cơ bản Trong quá trình phân công thực hiện công việc, các nhà quản lý thường đặt ra các câu hỏi: Tại sao họ lại làm việc? Làm việc trong điều kiện như nhau tại sao người này làm việc nghiêm túc hiệu quả cao còn người khác thì lại ngược lại?. Và câu trả lời được tìm ra đó là hệ thống động cơ nhu cầu và lợi ích của người lao động đã tạo ra điều đó. Để có thể tồn tại và phát triển con người cần phải tiến hành lao động. Lao động là một điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, là một sự tất yếu vĩnh viễn, là kẻ môi giới trong sự trao đổi vật chất giữa tự nhiên và con người.
“ Lao động là hoạt động có mục đích của con người. Lao động là một hành động diễn ra giữa người và giới tự nhiên. Trong khi lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy những vật chất trong giới tự nhiên, biến đổi vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của mình.TS Phạm Đức Thành và PTS. Mai Quốc Chánh – Giáo trình kinh tế lao động).
Mà qua mỗi quá trình lao động sẽ tạo ra một kết quả thực hiện công việc nhất định. Vào năm 1973 Maier & Lawler đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = khả năng + động lực. Như vậy để đạt được kết quả thực hiện công việc tốt cần phải quan tâm tới động lực và nâng cao khả năng của mỗi người. Muốn làm được điều đó ta cần phải biết: Động cơ là gì và động lực lao động là gì? Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thoả mãn được các nhu cầu cá nhân.
Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau. Mức độ thúc đẩy của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau.
10 Động cơ thường được che dấu từ nhiều động cơ thực do yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội. Hơn nữa động cơ luôn biến đổi, biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Vậy để nắm bắt được động cơ thúc đẩy để người lao động làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể môi trường cụ thể và đối với từng cá nhân người lao động. Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động).
Động lực cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Theo từ điển Tiếng Việt: “ động lực đuợc hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” Động lực là yếu tố cơ bản quyết định lựa chọn hành vi của mỗi người nhờ đó mà họ sẽ có hành vi tích cực hơn trong nhận và hoàn thành mọi công việc ở cương vị của mình. Động lực làm việc đó là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của động lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ. Tạo động lực làm việc: là dẫn dắt nhân viên đạt được những mục tiêu đã đề ra với nỗ lực lớn nhất.
=> Như vậy nghiên cứu động cơ và động lực của người lao động cho ta thấy động cơ lao động là hợp lý do để cá nhân tham gia vào quá trình lao động, còn động lực lao động là mức độ hưng phấn của cá nhân khi tham gia làm việc. Động cơ vừa có thể tạo ra một động lực mạnh mẽ cho người lao động và cũng có thể ngược lại. Tạo động lực cho nguời lao động là tất cả những hoạt động mà một doanh nghiệp, một tổ chức có thể thực hiện được đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động. Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực trong lao động.
Song trên thực tế động lực được tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó như là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn lợi ích tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể. Mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được, là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, là mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, 11 những đặc điểm tâm sinh lý mỗi con người có nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động, làm việc. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm sinh lý của mỗi cá nhân. Nhu cầu có hai dạng đó cơ bản đó là: nhu cầu vật chất là các nhu cầu về thức ăn, động có thể sống được, thỏa mãn được nhu cầu t hội; nhu cầu tinh thần là các nhu cầu bậc cao phú, nó đòi hỏi những điều kiện để con người tồn tạo ra tâm lý thoải mãi. Cả hai yếu tố vật chất và tứ thân người lao động nó không phải chỉ có một yêu cầ nhiều đòi hỏi khác nhau.
Vì vậy để thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc ngày càng hăng say, tiến bộ thì cách thiết thực nhất là thỏa mãn những nhu cầu tâm sinh lý của con người “ Bạn không thể làm việc hiệu quả với một cái túi trống rỗng và bị người khác xem thường”. Ta biết được rằng nhu cầu của mỗi con người là không ổn định, hay biến đổi, không bao giờ cùng lúc mọi nhu cầu và nhu cầu là không có giới hạn. Vì vậy đòi hỏi mỗi nhà quản trị cần phải có cái nhìn tổng quát và nhận định chính xác nhu cầu của từng cá nhân theo từng giai đoạn mà từ đó có các đáp ứng nhu cầu kịp thời, phù hợp và hiệu quả trong việc tạo động lực kích thích cá nhân đó đóng góp một cách cao nhất vào công ty. Lợi ích cũng rất đa dạng, phong phú nhưng mỗi loại lợi ích lại có vai trò tạo động lực khác nhau, tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà lợi ích này hoặc lợi ích kia trở thành lợi ích cấp bách.
Giữa nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ biện chứng, mật thiết với nhau. Nhu cầu là cơ sở, tiền đề của lợi ích. Nhu cầu là nội dung còn lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu. Bên cạnh đó lợi ích có quan hệ rất chặt chẽ với động lực làm việc.
Nhưng lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể đôi khi lại mâu thuẫn. Để người lao động có thể tự nguyện theo các định hướng của tổ chức cần phải làm cho họ thấy rõ lợi ích bản thân họ chỉ đạt được khi lợi ích của tập thể đạt được. Động lực lao động xuất hiện và còn tồn tại khi có một khoảng cách giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu. Lúc này con người mới có động cơ và động lực thúc đẩy họ hành động để đạt được sự thỏa mãn cao nhất nhu cầu của mình.
Để tạo ra động lực cho nguời lao động, nhà quản lý cần phải chú trọng tạo ra lợi ích phù hợp với nhu cầu mong muốn của nguời lao động. Nhà quản trị nhân lực phải luôn coi sự tác động qua lại giữa lợi ích và nhu cầu về vật chất và tinh thần của nguời 12 lao động là yếu tố cần thiết để tạo ra động lực giúp nguời lao động phát huy đuợc hết khả năng của mình trong quá trình tạo ra vật chất, và đây cũng chính là buớc đầu tiên cơ bản giúp nâng cao nâng cao hiệu quả làm việc, tiết kiệm chi phí, thời gian làm việc. Mục đích và vai trò của tạo động lực cho ngƣời lao động Theo bài giảng của PGS.TS Trần Xuân Cầu thì tạo động lực mang lại lợi ích cho người lao động, cho doanh nghiệp và gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội như sau: Đối với người lao động sẽ làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực lao động thì người lao động sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say,kết quả là năng suất lao động cá nhân được nâng cao rõ rệt. Năng suất tăng lên dẫn tới tiền lương cũng được nâng cao hơn trước và nâng cao thu nhập cho người lao động.
Phát huy được tính sáng tạo: Tính sáng tạo thường được phát huy khi con người cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc nào đó. Tăng sự gắn bó với công việc và công ty hiên tại: khi đã cảm thấy yêu thích và cảm nhận được sự thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong họ sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình.