Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Khái niệm Hiện nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về năng lực (NL) như sau: Chương trình Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004 xem NL là “một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực”. Tài liệu hội thảo chương trình (CT) giáo dục phổ thông tổng thể trong CT giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp NL vào phạm trù hoạt động và giải thích: “NL là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”.
Từ điển Bách khoa Việt Nam: “NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó”. Nhìn chung, những nhận định trên đây đều bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm chủ quan của người viết. Nhưng tất cả chúng ta cũng phải thừa nhận rằng NL chỉ được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế và giải quyết chúng một cách hiệu cao. Từ những nhận định trên, chúng tôi khái quát như sau: Năng lực là sự tổ hợp những thuộc tính tâm lí độc đáo của mỗi cá nhân nhằm giải quyết cách tình huống có vấn đề, đáp ứng được những yêu cầu của một hoạt động nhất định và đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả cao.
Đặc trưng và cấu trúc của năng lực - Đặc trưng 16 + NL cá nhân được bộc lộ ở hoạt động (hành động, công việc) nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể trong bối cảnh (điều kiện) cụ thể. + NL gắn liền với tính “hiệu quả”, “thành công” hoặc “chất lượng cao” của hoạt động. Nói các khác, có thể hiểu NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập và rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. - Cấu trúc của năng lực có thể phân thành 2 loại sau: + NL chung: Là NL cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội như: Khả năng hành động độc lập thành công; khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức; khả năng hành động thành công các nhóm xã hội không đồng nhất.
+ NL chuyên biệt: Là NL được hình thành và phát triển thông qua một lĩnh vực, môn học cụ thể nào đó. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Dạy học theo định hướng phát triển năng lực (ĐHPTNL) không phải chỉ chú ý tích cực hoá học sinh (HS) về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện NL giải quyết vấn đề gắn với những tình huống xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ thầy – trò theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển NL xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển NL giải quyết các vấn đề phức hợp khác.
Khác với CT định hướng nội dung, CT dạy học theo ĐHPTNL tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lí chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS. 17 Theo mục tiêu của CT giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành và phát triển cho HS 3 năng lực chung và 7 năng lực riêng (NL chuyên môn). NL chung: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo.
NL chuyên: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất. Bên cạnh việc hình thành, phát triển các NL cốt lõi, CT giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng NL đặc biệt (năng khiếu) của HS. - Về phương pháp Phương pháp có lẽ là thứ mà chương trình mới cần phải thay đổi nhiều nhất. Đối với chương trình cũ thì giáo viên là người truyền thụ tri thức, là trung tâm của quá trình dạy học.
Học sinh sẽ tiếp thu một cách thụ động kiến thức theo một chiều. Ở chương trình mới thì giáo viên chủ yếu là người tổ chức, định hướng các nhiệm vụ học tập cho học sinh, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức một cách khắc sâu nhất. Chú trọng vào khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, khả năng thể hiện bản thân, năng khiếu trước mọi người,.; Chú trọng vào việc sử dụng các quan điểm và phương pháp dạy học tích cực, thí nghiệm, thực hành và nhất là phương pháp trải nghiệm. - Về hình thức Chương trình cũ chủ yếu dạy học lí thuyết trên lớp cho học sinh thông qua lời giảng của giáo viên và lấy giáo viên làm trung tâm của quá trình dạy học.
Còn ở chương trình phát triển năng lực người học thì hình thức tổ chức học tập đa dạng, chú ý đến các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo nhằm chiếm lấy tri thức và rèn luyện kĩ năng sống của bản thân; Một phần đối với người giáo viên cần đạt ở chương tình này là trình độ công nghệ thông tin trong việc dạy học và cả trong việc tuyên truyền trực quan truyền thông. - Về đánh giá kết quả người học Phần quan trọng nhất trong quá trình học tập của mỗi học sinh chính là phần đánh giá kết quả. Việc gì cũng vậy, mọi người khi đánh giá một em học sinh có tốt 18 hay không đều nhìn vào kết quả. Nếu ở chương trình cũ học sinh được đánh giá ở các bài thi cuối năm để đánh giá toàn bộ quá trình học tập thì ngày nay sự đánh giá được tính trên cả quá trình học tập và rèn luyện của người học.
Chú trọng hơn về khả năng giải quyết tình huống thực tiễn dựa vào kiến thức đã học. Văn miêu tả và việc dạy học văn miêu tả ở lớp 5 1. Khái niệm Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Miêu tả là dùng một phương tiện ngôn ngữ hoặc dùng một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người” [31; tr. Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được đối tượng ấy” [TV4-T1, tr.
Văn miêu tả đã vẽ ra những bức tranh thật đầy màu sắc bởi ngôn ngữ sinh động và cụ thể khiến cho người đọc, người nghe tưởng như những hình ảnh về con người, sự vật, sự việc đang hiện hữu trước mắt mình. Tuy nhiên, những hình ảnh về cánh đồng, dòng sông, một con vật… do văn miêu tả tạo nên không phải là bức ảnh chụp lại, sao chép lại một cách vụng về. Mà nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát cuộc sống thực tế. Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: Miêu tả là việc sử dụng ngôn ngữ văn chương sinh động, giàu hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc, người nghe một bức tranh cụ thể về một đối tượng (đồ vật, cây cối, con người…) nào đó, đã làm cho chúng ta chú ý, ấn tượng và cảm xúc sâu sắc về nó.
Đặc điểm của văn miêu tả b. Văn miêu tả mang tính thông báo, thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết Văn miêu tả là một loại văn giàu sự sáng tạo, đặc biệt là sự dồi dào về hình ảnh và cảm xúc. Cùng một đối tượng quan sát nhưng giữa hai người sẽ có sự nhìn nhận, cách cảm nhận, ý nghĩ và cảm xúc khác nhau. Vì vậy, văn miêu tả sẽ mang đậm dấu ấn cá nhân, cảm xúc chủ quan của người viết.
Không có một bài văn miêu 19 tả nào được viết ra với một mục đích là miêu tả đơn thuần mà đó là sự nhìn nhận một cách tỉ mỉ để đưa ra những nhận định vô cùng tinh tế về sự vật, hiện tượng. Và thông qua những nhận định ấy, chúng ta có thể cảm nhận được những tình cảm, cảm xúc, những thông điệp ý nghĩa và vô cùng cao đẹp mà tác giả muốn gửi gắm đến cho người nghe, người đọc. Ví dụ: Cuộc sống quê tôi gắn bó với cây cọ. Cha làm cho tôi chiếc chổi cọ để quét nhà, quét sân.
Mẹ đựng hạt giống đầy móm lá cọ, treo lên gác bếp để gieo cấy mùa sau. Chị tôi đan nón lá cọ, lại biết đan cả mành cọ và làn cọ xuất khẩu. Chiều chiều chăn trâu, chúng tôi rủ nhau đi nhặt những trái cọ rơi đầy quanh gốc về om, ăn vừa béo vừa bùi. Quê tôi có câu hát: “Dù ai đi ngược về xuôi, Cơm nắm lá cọ là người sông Thao”.
Người sông Thao đi đâu rồi cũng nhớ về rừng cọ quê mình. (Trích Rừng cọ quê tôi - Nguyễn Thái Vận) Văn miêu tả không chỉ có mục đích thông báo mà còn mang trong mình tính thẩm mĩ rất cao. Thẩm mĩ ở đây không đơn giản chỉ là nói về cái đẹp bản chất bên ngoài của đối tượng được miêu tả mà nó còn hướng cho người đọc có cái nhìn đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Đó là sự hòa mình vào thiên nhiên, hòa mình vào cộng đồng, phải biết hướng tới những suy nghĩ lạc quan, tích cực.
Từ đó, mọi người sẽ luôn vui vẻ và thêm yêu cuộc sống xung quanh nhiều hơn. Ví dụ: Từ làng, Thủy đi tắt qua đồng để ra bến tàu điện. Sớm đầu thu mát lạnh. Giữa những đám mây xám đục, vòm trời hiện ra như những khoảng vực xanh vòi vọi.
Một vài giọt mưa loáng thoáng rơi trên chiếc khăn quàng đỏ và mái tóc xõa ngang vai của Thủy; những sợi cỏ đẫm nước lùa vào dép Thủy làm bàn chân nhỏ bé của em ướt lạnh. Người trong làng gánh lên phố những gánh rau thơm, những bẹ cải sớm và những bó hoa huệ trắng muốt.