Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý xây dựng THTT. - Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng THTT của hiệu trưởng trường THCS Quận Đống Đa. - Chương 3: Những biện pháp quản lý xây dựng THTT của hiệu trưởng trường THCS Quận Đống Đa. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƢỜNG HỌC THÂN THIỆN.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề xây dựng trƣờng thân thiện. Trên thế giới, mô hình THTT được triển khai xây dựng ở những nước đang phát triển vào những năm đầu tiên của thế kỷ 21 nhằm mục tiêu huy động tổng lực của nhà trường, gia đình, cộng đồng và xã hội trong chăm sóc, bảo vệ trẻ em, tạo cơ hội cho trẻ em phát huy hết tiềm năng của chúng. Mô hình này được xây dựng trên cơ sở phát triển những ý tưởng trong Công ước của Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em, tuyên ngôn giáo dục cho mọi người và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hiệp quốc. Phong trào “Xây dựng THTT, học sinh tích cực” được Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động và triển khai tới các trường phổ thông vào đầu năm 2008- 2009.
Lễ phát động được tổ chức vào ngày 15/05/2008 tại trường THCS Vạn Phúc, Thành phố Hà Đông, Hà Tây (nay thuộc Quận Hà Đông, Hà Nội) với mục tiêu chính là huy động sức mạnh toàn xã hội xây dựng cho trẻ một môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, hạn chế tối đa tình trạng học sinh bỏ học. Có thể thấy, cho đến nay, nghiên cứu xây dựng THTT còn rất mới mẻ, vì vậy, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể đến sổ tay “Xây dựng THTT” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phải coi đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về THTT vì trong đó giới thiệu mục tiêu, những nội dung xây dựng THTT, có ý nghĩa định hướng cho hoạt động xây dựng phong trào thi đua xây dựng THTT. TS Nguyễn Công Khanh - Phó Giám đốc Trung tâm đảm bảo chất lượng GD & Khảo thí, ĐH Sư phạm Hà Nội thì “sản phẩm” của THTT là những điều chúng ta đang rất cần ở thế hệ trẻ: độc lập, tự tin, có khả năng suy nghĩ và đặc biệt có khả năng học hỏi 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com suốt đời.TS Nguyễn Công Khanh và cộng sự cũng đã nghiên cứu, xây dựng mô hình Trường học ưu Việt - Giáo dục phát triển đa trí thông minh.
Công trình này với mục tiêu đáp ứng được các yêu cầu giáo dục phát triển các dạng trí tuệ khác nhau, dựa trên những lý thuyết mới nhất về giáo dục nhân cách, trí tuệ, giá trị sống và phát triển kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện nhân cách của học sinh Việt Nam. Mô hình nghiên cứu tập trung vào 3 lực lượng giáo dục chính là chuyên gia, giáo viên và cha mẹ, cả 3 lực lượng này cùng hướng về học sinh để khơi nguồn trí tuệ, thắp sáng tài năng. Hà Nhật Thăng có bài báo “Kinh nghiệm xây dựng THTT ở Trường tư thục Bình Minh (Hà Nội)”. Trong bài thực chất bàn tới việc quản lý tổ chức xây dựng THTT, xác định sự cần thiết, những nội dung xây dựng THTT, chính là quản lý xây dựng các mối quan hệ.
Thực tế, chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung phân tích giáo dục THCS ở một khu vực, bàn một cách hệ thống biện pháp quản lý xây dựng THTT, vì vậy, tác giả nghiên cứu “Biện pháp quản lý xây dựng THTT của hiệu trưởng trường trung học cở sở Quận Đống Đa, Hà Nội”. Những khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý, cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức”.
Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này, nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, một con người riêng lẻ không thể nào đạt đến được. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Vậy hoạt động quản lý (management) là gì? Định nghĩa kinh điển nhất là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
Bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu người quản lý phải làm gì – cũng chính là tìm hiểu các chức năng quản lý và họ làm công việc ấy như thế nào; nói cách khác, cần xem xét họ phải sắm những vai trò quản lý nào. Khái lược về các chức năng quản lý: - Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là một chức năng quản lý. Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu trong tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có 3 nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: (a) xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này và (c) quyết định xem những họat động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó.
- Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cẩn phải chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực.
Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả. Quá 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng. Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ tiếp nối ngay sau các chức năng kế hoạch hóa và tổ chức. - Lãnh đạo: (chỉ đạo)- (leading): Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức.
Một số học giả gọi đó là quá trình chỉ đạo (directing) hay tác động (influencing). Dù gọi tên thế nào, mặc lòng, lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên, việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia. - Kiểm tra (controlling): Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó, một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những họat động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết.
Một , uốn nắn. Đó cũng là quá trình - tự điều chỉnh diến ra có tính chu kỳ như sau: Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động. Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra. Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch.
Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực (nếu cần). Các vai trò quản lý: Người quản lý thực hiện bốn chức năng quản lý nói trên khi họ phải sắm hàng lọat những vai trò quản lý. Vai trò quản lý là tập hợp có tổ chức các hành vi của người quản lý, được phân thành ba nhóm lớn: vai trò liên nhân cách, vai trò thông tin, vai trò quyết định. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các vai trò liên nhân cách: Vai trò đại diện (figurehead role): Là một trong những vai trò cơ bản nhất và đơn giản nhất của người quản lý, khi họ thay mặt hay đại diện cho tổ chức ở các cuộc lễ lạt hoặc những hoạt động có tính chất nghi thức.
Tuy nhiên vụ đại diện này dường như không mấy quan trọng, nhưng nó đòi hỏi người quản lý phải lưu tâm vì đó là biểu hiện của sự quan tâm, tôn trọng của người quản lý đến các bên đối thoại, đối tác: cấp dưới, khách hàng, cộng đồng,. Vai trò thủ lĩnh – vai trò lãnh đạo (leader role): Là vai trò của người quản lý khi họ thực hiện việc chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp hoạt động của những người dưới quyền nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Một số khía cạnh của vai trò thủ lĩnh – lãnh đạo có quan hệ trực tiếp tới vấn đề cán bộ: tuyển dụng, đề bạt và sa thải những người dưới quyền. Một số khía cạnh khác liên quan đến việc động viên, lôi cuốn cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ để đáp ứng được yêu cầu của tổ chức.
Còn một mặt nữa thuộc về vai trò này là làm cho cấp dưới nhận rõ được những quan niệm, tầm nhìn của cả tổ chức để cổ vũ họ phấn đấu với tinh thần sáng tạo vì mục tiêu của tổ chức. Vai trò liên hệ (liaison role) đòi hỏi người quản lý phải mở rộng quan hệ với những người bên ngoài tổ chức. Đó là những bạn hàng, quan chức chính phủ,. Khi thực hiện vai trò này, người quản lý tìm kiếm sự giúp đỡ ủng hộ của những nhân vật có ảnh hưởng tới sự thành đạt của tổ chức.