Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục đại học và cao đẳng đóng vai trò then chốt trong việc cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Điều 5 Luật Giáo dục 2005. Nâng cao chất lượng đào tạo phụ thuộc chặt chẽ vào sự kết hợp giữa hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên, trong đó tự học được xem là con đường cốt lõi giúp người học chiếm lĩnh tri thức bền vững. Tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình, quy mô đào tạo trong năm học 2007 - 2008 đạt 5.571 học sinh - sinh viên, riêng bậc cao đẳng chiếm 3.001 sinh viên với đội ngũ 115 cán bộ giảng viên (trong đó có 90 giảng viên trực tiếp giảng dạy và 72% đạt trình độ sau đại học tính cả giảng viên thỉnh giảng).

Mặc dù quy mô đào tạo liên tục mở rộng, chất lượng học tập của sinh viên vẫn còn nhiều hạn chế do chịu ảnh hưởng nặng nề từ thói quen học tập thụ động ở bậc phổ thông. Sinh viên còn nặng tâm lý học vẹt, ỷ lại, thiếu kỹ năng nghiên cứu độc lập và lười khai thác thư viện. Bên cạnh đó, công tác quản lý của nhà trường đối với hoạt động tự học chưa thực sự đồng bộ và sát sao. Cơ sở vật chất phục vụ tự học còn eo hẹp với 5 phòng thư viện diện tích khoảng 300 m2 và 1 phòng thư viện điện tử chỉ có 30 máy tính nối mạng Internet cho hàng ngàn người học. Khảo sát sơ bộ cho thấy chỉ có 16,6% sinh viên nhận thức đầy đủ và rất đồng ý rằng tự học quyết định trực tiếp đến kết quả học tập.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng tự học và công tác quản lý hoạt động tự học tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp quản lý khoa học, đồng bộ nhằm nâng cao kết quả học tập của sinh viên và chất lượng đào tạo chung của nhà trường. Phạm vi khảo sát được triển khai trọng điểm trên 3 lớp Cao đẳng khóa 6 chuyên ngành Kế toán trong giai đoạn năm học 2007 - 2008. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần cung cấp khung giải pháp khả thi để chuyển biến tỷ lệ tự học hiệu quả từ mức trung bình hiện nay (chiếm hơn 50%) lên mức khá và tốt đạt trên 75% trong toàn trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý tổ chức kinh điển với 4 chức năng cốt lõi của Henri Fayol và các nhà lý luận quản lý giáo dục hiện đại, bao gồm: Kế hoạch hóa (Planning), Tổ chức (Organizing), Chỉ đạo (Leading) và Kiểm tra (Controlling). Đây là chu trình quản lý khép kín, tương tác đa chiều nhằm định hướng toàn bộ nguồn lực của nhà trường vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp thuyết lấy người học làm trung tâm của John Dewey và quan điểm vùng phát triển gần (Zone of Proximal Development) của Lev Vygotsky để khẳng định hoạt động dạy của giảng viên đóng vai trò ngoại lực định hướng, còn năng lực tự học của sinh viên là nội lực quyết định sự phát triển trí tuệ. Thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow cũng được áp dụng để phân tích cấu trúc động cơ tự học từ nhu cầu cơ bản đến nhu cầu tự khẳng định bản thân.

Khung khái niệm chính của đề tài bao gồm 4 thuật ngữ nền tảng:

  • Tự học: Là quá trình người học tự giác vận dụng trí tuệ và thể chất để chiếm lĩnh tri thức theo 3 mức độ (tự học giáp mặt trên lớp, tự học có hướng dẫn gián tiếp và tự học nghiên cứu độc lập ở mức độ cao).
  • Quản lý giáo dục: Là hệ thống những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tất cả các thành tố trong hệ thống sư phạm nhằm hình thành nhân cách toàn diện cho người học.
  • Quản lý nhà trường: Là việc thực hiện quản lý vi mô các quá trình dạy học, đội ngũ giảng viên, người học và cơ sở vật chất theo các nguyên lý giáo dục chuẩn mực.
  • Quản lý hoạt động tự học: Là sự điều hành có hệ thống phương pháp tự học, kế hoạch học tập, nội dung học liệu và kiểm tra đánh giá nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo suốt đời.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp chặt chẽ giữa tài liệu thứ cấp (các văn kiện của Đảng về đổi mới giáo dục, Luật Giáo dục 2005, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, báo cáo tổng kết năm học 2007 - 2008 của trường) và dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp tại thực địa. Nghiên cứu thực hiện khảo sát toàn diện thông qua bảng hỏi kết hợp phỏng vấn chuyên sâu đối với cán bộ quản lý (trong tổng số 115 cán bộ trường), giảng viên bộ môn (trong tổng số 90 giảng viên giảng dạy) và toàn bộ sinh viên thuộc 3 lớp Cao đẳng khóa 6 chuyên ngành Kế toán.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm phản ánh khách quan bức tranh học tập của sinh viên khối ngành kinh tế - khối ngành chiếm tỷ trọng đào tạo lớn nhất của nhà trường. Phương pháp phân tích dữ liệu chủ đạo là toán học thống kê để tính tần số và tỷ lệ phần trăm (%). Các biến số được phân tích qua thang đo 3 mức độ thực hiện (thường xuyên, không thường xuyên, chưa thực hiện) và thang đánh giá 4 mức kết quả (tốt, khá, trung bình, chưa tốt). Việc lựa chọn phương pháp này giúp đối chiếu, so sánh định lượng sự đồng thuận hoặc khoảng cách nhận thức giữa 3 nhóm chủ thể: cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên trong suốt timeline nghiên cứu năm học 2007 - 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất, nhận thức của sinh viên về vai trò của tự học còn mờ nhạt và thiếu tính tự giác. Số liệu khảo sát cho thấy chỉ có 16,6% sinh viên rất đồng ý rằng tự học giữ vai trò quyết định đến kết quả học tập, trong khi có tới 56,7% sinh viên phân vân và 16,6% không đồng ý. Đáng chú ý, chỉ có 10,6% sinh viên nhận thức được việc tự học giúp hình thành năng lực học tập suốt đời, trong khi 60,4% vẫn tỏ ra do dự. Điều này giải thích vì sao phần lớn sinh viên vẫn giữ thói quen thụ động ghi chép một chiều trên lớp.

Phát hiện thứ hai, đòn bẩy hành chính và điểm thi đua phát huy tác dụng mạnh mẽ nhất nhưng thiếu hoạt động trải nghiệm thực tiễn. Có 100% cán bộ quản lý và 100% sinh viên xác nhận quy định lấy điểm học tập làm tiêu chuẩn bình xét Đoàn - Đảng và xét tốt nghiệp được thực hiện thường xuyên, với tỷ lệ đánh giá chất lượng tốt đạt lần lượt 84,5% và 82,6%. Trái lại, 100% cả cán bộ quản lý và sinh viên đều thừa nhận nhà trường chưa bao giờ tổ chức các chuyến tham quan học tập thực tế để khơi gợi cảm hứng tự nghiên cứu cho người học.

Phát hiện thứ ba, tồn tại khoảng cách lớn giữa tần suất thực hiện và chất lượng hướng dẫn tự học của giảng viên. Có 90,2% giảng viên và 83,6% sinh viên khẳng định việc giới thiệu sách, tài liệu tham khảo được tiến hành thường xuyên. Tuy nhiên, tỷ lệ đánh giá việc làm này đạt mức tốt chỉ là 8,6% từ phía giảng viên và 0% từ phía sinh viên; phần lớn chỉ xếp loại khá (giảng viên đạt 80,7%, sinh viên đạt 81,3%). Giảng viên chủ yếu mới dừng lại ở việc đọc tên giáo trình mà chưa hướng dẫn phương pháp khai thác thông tin chuyên sâu. Tương tự, 79,3% cán bộ quản lý đánh giá công tác nêu gương điển hình tự học chỉ thực hiện ở mức không thường xuyên và 50,7% chỉ đạt chất lượng trung bình.

Phát hiện thứ tư, khâu kiểm tra và tích hợp nội dung tự học vào thi cử còn mang tính chiếu lệ. Khảo sát chỉ ra 69,4% giảng viên không thường xuyên kiểm tra việc chuẩn bị bài của sinh viên trước các buổi thảo luận, seminar. Về phía người học, chỉ có 15,2% sinh viên cho biết đề thi thường xuyên tích hợp nội dung tự học, 61,4% cho biết không thường xuyên và có tới 23,4% khẳng định chưa bao giờ gặp nội dung tự nghiên cứu trong các bài thi kiểm tra học phần.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của thực trạng trên bắt nguồn từ cả hai phía chủ quan và khách quan. Về mặt chủ quan, 100% sinh viên vừa tốt nghiệp trung học phổ thông, phần lớn xuất thân từ các vùng nông thôn của tỉnh Thái Bình nên kỹ năng sử dụng công nghệ và tra cứu học thuật còn nhiều bỡ ngỡ. Sinh viên chưa thoát khỏi sức ỳ tâm lý học để thi, học vẹt để lấy bằng. Về mặt khách quan, đội ngũ 90 giảng viên cơ hữu phải gánh vác khối lượng giảng dạy lớn cho hơn 5.500 học sinh - sinh viên toàn trường, dẫn đến tình trạng thiếu thời gian theo sát từng nhóm học tập. Bên cạnh đó, thư viện trường chỉ có 30 máy tính kết nối Internet và 50 phòng học chưa được trang bị đồng bộ phương tiện nghe nhìn hiện đại.

Khi đối chiếu với các mô hình giáo dục tiên tiến, nếu biểu diễn tương quan nhận thức bằng biểu đồ phân phối tần suất, ta thấy sự chênh lệch lớn giữa giảng viên (80,7% cho rằng thường xuyên giáo dục truyền thống tự học) và sinh viên (70,7% phản ánh chưa từng được tham gia). Điều này chứng minh công tác truyền thông nội bộ và phương pháp quản lý của trường còn mang tính hình thức, đúng như nhận định của các chuyên gia giáo dục: nếu ngoại lực quản lý không định hướng trúng đích, nội lực tự học của người học sẽ bị triệt tiêu, khiến hiệu quả đào tạo dừng lại ở mức trung bình.

Đề xuất và khuyến nghị

Biện pháp thứ nhất, hoàn thiện công tác lập kế hoạch và thể chế hóa quy chế quản lý tự học. Ban Giám hiệu chủ trì, phối hợp cùng Phòng Quản lý Đào tạo ban hành quy chế tự học cụ thể cho từng chuyên ngành ngay trong Quý 1 năm 2009. Mục tiêu đạt 100% các môn học chuyên ngành Kế toán và Kỹ thuật quy định rõ ràng tỷ lệ từ 30% đến 50% thời lượng dành cho tự học có hướng dẫn, đồng thời bắt buộc sinh viên duy trì 4 quyển vở học tập chuyên biệt (vở ghi, vở bài tập, vở đề cương và vở soạn bài).

Biện pháp thứ hai, đổi mới phương pháp giảng dạy và cải tiến quy trình kiểm tra đánh giá. Giảng viên các khoa chuyên môn chủ động chuyển đổi từ lối dạy truyền thụ một chiều sang phương pháp dạy học tích cực, tổ chức seminar và thảo luận nhóm định kỳ từ 1 đến 2 lần mỗi tháng cho mỗi học phần. Yêu cầu 100% đề thi kết thúc môn phải dành từ 20% đến 30% thang điểm cho phần kiến thức tự nghiên cứu và xử lý tình huống thực tiễn, nhằm nâng tỷ lệ sinh viên có kỹ năng tự học khá - giỏi từ 33,4% lên 70% trong vòng 2 năm học.

Biện pháp thứ ba, hiện đại hóa cơ sở vật chất và phát triển thư viện điện tử. Phòng Quản trị Đời sống cùng Ban Giám hiệu đầu tư mở rộng diện tích 5 phòng thư viện (300 m2), trang bị thêm ít nhất 50 máy tính nối mạng Internet băng thông rộng và bổ sung 500 đầu sách chuyên khảo mới trong giai đoạn 2009 - 2010. Đảm bảo 100% sinh viên cao đẳng được cấp tài khoản tra cứu học liệu số và giáo trình điện tử phục vụ nghiên cứu ngoài giờ lên lớp.

Biện pháp thứ tư, xây dựng bầu không khí học thuật và phát động phong trào tự học sâu rộng. Đoàn Thanh niên và Hội Khuyến học nhà trường triển khai thường niên từ năm học 2008 - 2009 việc thành lập ít nhất 2 câu lạc bộ học thuật chuyên ngành tại mỗi khoa; định kỳ tổ chức 2 cuộc thi Sinh viên tự học sáng tạo mỗi năm học. Phấn đấu đạt chỉ tiêu trên 85% đoàn viên tham gia sinh hoạt tổ nhóm tự học nền nếp, gắn tiêu chí tự học vào việc đánh giá phân loại đoàn viên xuất sắc hàng kỳ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất, Ban Giám hiệu và Cán bộ Quản lý tại các trường Cao đẳng, Đại học địa phương: Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn về việc vận dụng 4 chức năng quản lý để xây dựng nội quy, thiết kế chuẩn đầu ra và tối ưu hóa hệ thống thư viện, phòng máy phục vụ quy mô từ 3.000 đến 6.000 sinh viên.

Nhóm thứ hai, Giảng viên các khối ngành Kinh tế, Kỹ thuật và Khoa học Xã hội: Tài liệu là cẩm nang hữu ích hướng dẫn phương pháp biên soạn đề cương môn học tích hợp 30% - 50% thời lượng tự học, kỹ thuật điều phối seminar nhóm và phương pháp thiết kế ma trận đề thi đánh giá năng lực tư duy độc lập của người học.

Nhóm thứ ba, Sinh viên bậc Cao đẳng và Đại học trên toàn quốc: Người học có thể tham khảo phương pháp lập kế hoạch học tập cá nhân khoa học, kỹ thuật quản lý 4 cuốn vở môn học và kỹ năng khai thác tài liệu học thuật nhằm chuyển đổi từ cách học thụ động phổ thông sang phương pháp tự nghiên cứu hiệu quả.

Nhóm thứ tư, Học viên cao học và Nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Giáo dục: Đề tài là nguồn dữ liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thực chứng, bảng hỏi khảo sát 3 nhóm chủ thể và cách thức xử lý số liệu toán học thống kê trong việc đánh giá chất lượng dạy và học.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động tự học có vai trò quyết định như thế nào đối với sinh viên cao đẳng? Tự học là nhân tố nội lực quyết định sự chuyển hóa tri thức từ người dạy sang người học. Trong bối cảnh trường có quy mô 5.571 học sinh - sinh viên nhưng chỉ có 115 cán bộ giảng viên, việc tự nghiên cứu giúp sinh viên hình thành tư duy phản biện độc lập, chiếm lĩnh kiến thức chuyên sâu và đáp ứng chính xác nhu cầu tuyển dụng khắt khe của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Nút thắt lớn nhất trong công tác quản lý tự học tại các trường cao đẳng hiện nay là gì? Nút thắt lớn nhất nằm ở khâu kiểm tra đánh giá và sự thiếu hụt cơ sở vật chất. Khảo sát cho thấy có tới 69,4% giảng viên không thường xuyên kiểm tra bài tự học trước giờ lên lớp và 79,3% cán bộ quản lý thừa nhận việc nêu gương tự học chưa đều đặn. Bên cạnh đó, hệ thống thư viện chỉ có 30 máy tính nối mạng khiến việc tra cứu thông tin của hơn 3.000 sinh viên cao đẳng bị hạn chế.

Làm thế nào để giảng viên buộc sinh viên phải tự học một cách thực chất qua thi cử? Giảng viên cần đổi mới cấu trúc đề thi bằng cách dành từ 20% đến 30% tổng số điểm cho các câu hỏi mở, bài tập tình huống thực tế hoặc kiến thức ngoài giáo trình bắt buộc phải tự đọc tài liệu mới làm được. Khi tỷ lệ đề thi tích hợp nội dung tự học tăng từ mức 15,2% hiện nay lên 100%, sinh viên sẽ tự giác từ bỏ lối học vẹt để nghiên cứu tài liệu nghiêm túc.

Mô hình 4 cuốn vở môn học mang lại lợi ích gì cho việc quản lý tự học của sinh viên? Mô hình 4 cuốn vở môn học (gồm vở ghi bài trên lớp, vở bài tập, vở làm đề cương và vở soạn bài) giúp người học rèn luyện tính kỷ luật và hệ thống hóa tri thức khoa học. Đây là công cụ trực quan giúp giảng viên và cán bộ quản lý dễ dàng kiểm tra, định lượng 100% tiến độ và chất lượng tự học của sinh viên định kỳ hàng tuần.

Sinh viên năm nhất xuất thân từ nông thôn cần làm gì để vượt qua sức ỳ học tập? Sinh viên cần chủ động tham gia các tổ nhóm học tập từ 3 đến 5 người, tận dụng triệt để 5 phòng thư viện và phòng máy tính của trường để tra cứu thông tin. Việc xây dựng thời gian biểu cá nhân chi tiết và tích cực trao đổi trong các buổi thảo luận chuyên đề sẽ giúp sinh viên nhanh chóng thích nghi với môi trường đào tạo cao đẳng trong vòng 1 đến 2 học kỳ đầu tiên.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học tại các trường cao đẳng dựa trên chu trình 4 chức năng quản lý và các học thuyết giáo dục hiện đại.
  • Nghiên cứu phản ánh trung thực thực trạng tự học của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình qua mẫu khảo sát 3 lớp Cao đẳng Kế toán khóa 6, chỉ rõ các điểm nghẽn về nhận thức và hạ tầng kỹ thuật.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ khâu lập kế hoạch, đổi mới phương pháp giảng dạy, hiện đại hóa thư viện đến phát động phong trào tự học trong đoàn viên sinh viên.
  • Xác lập lộ trình chuyển đổi quản lý rõ ràng từ năm học 2008 - 2009 đến năm 2010, hướng tới mục tiêu 100% đề thi tích hợp đánh giá năng lực tự học và nâng tỷ lệ sinh viên tự học giỏi lên trên 70%.
  • Các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng cần nhanh chóng ứng dụng khung giải pháp quản lý này nhằm khơi dậy nội lực của người học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo bền vững suốt đời.