Mở đầu - Nội dung: Gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp tại trƣờng THPT Hoàng Diệu giai đoạn 2012 – 2015. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh trƣờng THPT Hoàng Diệu, Hai Bà Trƣng, Hà Nội. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDHN 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 1.1 Ngoài nước: Trên thế giới đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu về hƣớng nghiệp. Năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên. Nội dung đề cập đến vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp, sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp. Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức, phƣơng thức hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng bao gồm: Năm 1986, các tác giả H.Frankiewiez; Bernd Rothe; U.
Marschneider đã đƣa ra các phƣơng thức: “phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm ký thuật tổng hợp và các trƣờng phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho HSPT” Các tác giả R.Duismann đã có những công trình nghiên cứu về phƣơng thức tổ chức cho HSPT thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, họ đã khẳng định: “Hoạt động dạy học, lao động – kỹ thuật – kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với các môn khoa học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục THPT… bởi vì nó đã tạo điều kiện cho học sinh phát triển thành những con ngƣời trƣởng thành trong cuộc sống lao động – xã hội. Herring khuyến khích các giáo viên phối hợp định hƣớng nghề cho HSPT qua những bài giảng hàng ngày trên lớp; Tổ chức hoạt động tập thể hoặc các sự kiện đặc biệt nhƣ đi dã ngoại, lựa chọn sách, phim, ảnh, clip, và các phƣơng tiện khác. Với học sinh trung học, có nhiều chƣơng trình sự kiện về nghề sẽ giúp học sinh hiểu đƣợc mối tƣơng tác giữa những trải nghiệm của bản thân, với những ƣớc mơ, khát vọng thành công trong tƣơng lai. Các tác giả này đã khái quát mục 6 tiêu hƣớng nghiệp cho từng cấp học và những cách thức để tiến hành những mục tiêu đó, đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa định hƣớng nghề và tham vấn nghề, các thành phần tạo nên mô hình GDHN hiệu quả.
Các tác giả Morgan và Hart nhấn mạnh vai trò của GDHN trong nhà trƣờng đã khẳng định GDHN trong nhà trƣờng cần phải khuyến khích HS suy nghĩ về bản thân mình và về thế giới nghề nghiệp; yêu cầu HS có kiến thức, hiểu biết và kĩ năng trong quá trình chọn nghề. Trong tác phẩm của Các Mác đã nhấn mạnh: … khả năng lựa chọn nghề nghiệp là mặt ưu việt của con người trước những tồn tại khác của thế giới, nhưng đồng thời việc lựa chọn ấy lại là một hành động tiêu diệt cuộc sống của họ, làm tiêu tan mọi dự định của họ và làm cho họ bất hạn. Do vậy, việc lựa chọn này cần phải đắn đo, suy nghĩ, đó là trách nhiệm đầu tiên của thanh niên khi bước vào đời. ( xem bài của PGS.TS Đặng Danh Ánh tại Hội thảo: “Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp – nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” 1.2 Trong nước: Ở Việt Nam từ năm 1975 – 1980 Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam do Phạm Tất Dong dẫn đầu cùng các cộng sự là Đoàn Chi, Phạm Huy Thu… đã thực nghiệm để đƣa công tác hƣớng nghiệp vào trƣờng phổ thông.
Nhóm tác giả đã phác thảo đƣợc 12 họa đồ nghề và tiến hành tƣ vấn nghề cho hơn 300 thƣơng binh, chế tạo một số thiết bị phƣơng tiện tƣ vấn nghề đơn giản, ví dụ thiết bị đo độ rung bằng tay pin, trắc nghiệm đo tƣởng tƣợng không gian… Dựa trên kết quả bƣớc đầu đó, bắt kịp đƣợc yêu cầu cải cách giáo dục, Ban tâm lý học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã đƣa công tác hƣớng nghiệp trong đó có nội dung tƣ vấn hƣớng nghiệp vào chƣơng trình cải cách của các trƣờng phổ thông. Năm 1980 Viện khoa học dạy nghề có một nhóm do Đặng Danh Ánh đứng đầu cùng các cộng sự Phạm Đức Quang, Phan Ngọc Anh, Phạm Thị Mùi, Nguyễn Thị Hòa đã nghiên cứu về hứng thú nghề, thích ứng nghề của HS trong trƣờng nghề và xuất bản sách Tuổi trẻ và nghề nghiệp tập 1, tập 2 7 gồm 60 nghề. Những sản phẩm nghiên cứu hai Viện là cơ sở để ngày 19/3/1981, thủ tƣớng Chính phủ đã ký quyết định số 126/CP về “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý học sinh tốt nghiệp ra trường”. Tiếp đó, Bộ Giáo dục đã ban hành Thông tƣ số 31/TT hƣớng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP.
Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nƣớc ta về công tác hƣớng nghiệp cho HSPT. Từ khi có nghị quyết 126/CP, GDHN phát triển rất mạnh mẽ ở hầu hết các trƣờng cấp 2, cấp 3. Sau thời gian đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác hƣớng nghiệp bị lu mờ dần, nhƣờng chỗ cho việc dạy thêm, học thêm, tạo thành cuộc chạy đua vào các trƣờng Đại học, kéo theo biết bao tiêu cực. Những năm sau đó có một số tác giả: Phạm Văn Hộ, Hà Thế Truyền, Trần Mai Thu, Nguyễn Hùng… đã nghiên cứu GDHN cho HSPT, đặc biệt tháng 3/1991, trƣớc yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn GDHN, Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập trung tâm Lao động – Hƣớng nghiệp trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở Ban GDHN.
Bên cạnh đó, một số trƣờng ĐH, Viện nghiên cứu cùng Trung tâm lao động – Hƣớng nghiệp đã khôi phục việc nghiên cứu hoạt động GDHN, biên soạn xuất bản đƣợc một số tài liệu nhƣ: “ Các nội dung, hình thức , phƣơng pháp GDHN và Tƣ vấn nghề cho HSPT”… 1.2 Một số khái niệm cơ bản.1 Hướng nghiệp, GDHN và hoạt động GDHN 1.1 Hướng nghiệp: Về phƣơng diện kinh tế học, hƣớng nghiệp đƣợc hiểu là hệ thống những biện pháp dẫn dắt, tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nƣớc, hƣớng nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng xuất lao động xã hội. Theo các nhà giáo dục học: “hƣớng nghiệp vừa là hoạt động dạy học của GV, vừa là hoạt động của HS và kết quả cuối cùng của quá trình hƣớng nghiệp là sự tự quyết định của HS trong việc lựa chọn nghề nghiệp tƣơng lai”. Xét về mặt xã hội, hƣớng nghiệp đƣợc hiểu trong phạm vi rộng hơn, không phải là công việc chỉ làm một lần trong cuộc đời mỗi con ngƣời, đó là 8 hoạt động có tính lặp lại: xuất phát từ việc định hƣớng để lựa chọn một nghề, thích ứng với nghề đó và kết quả là sự phù hợp trong quá trình hành nghề. Tuy nhiên, do tác động của xã hội cũng nhƣ nhu cầu, hoàn cảnh của mỗi cá nhân, mỗi con ngƣời đều có thể và cần phải thực hiện lại việc hƣớng nghiệp cho bản thân trong mỗi bƣớc ngoặt trong cuộc đời nghề nghiệp của mình.
Theo tác giả Phạm Tất Dong: “ Hƣớng nghiệp nhƣ là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn đƣợc nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trƣờng của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân”. Còn theo tác giả Đặng Danh Ánh: “ Hƣớng nghiệp là hệ thống các biện pháp tác động của Nhà nƣớc, nhà trƣờng, gia đình và toàn xã hội nhằm giúp cho con ngƣời lựa chọn và xác định đƣợc vị trí nghề nghiệp của mình trong cuộc sống trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trƣờng, năng lực của các cá nhân với nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế …”[ 4,tr128] Rõ ràng là dƣới góc độ khác nhau, khi đề cập đến GDHN có rất nhiều quan điểm. Nhƣng qua nghiên cứu các tài liệu lý luận chúng tôi cho rằng: “Hướng nghiệp là toàn bộ những tác động để giúp con người định hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định nhằm bảo đảm được sự phù hợp giữa khả năng, yêu cầu của cá nhân với yêu cầu của xã hội”. “Hướng nghiệp cho HSPT là hệ thống biện pháp giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội.
Trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lý, ý thức, kỹ năng, để họ có thể đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân”. Hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng phổ thông là công việc của tất cả các tập thể sƣ phạm (của hiệu trƣởng, hiệu phó, đoàn thanh niên, cán bộ giáo viên trong nhà trƣờng…). Là hoạt động dạy của thầy, học của trò, nhằm giúp các em lĩnh hội đƣợc những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, ở từng địa phƣơng, từ đó giúp các em có kỹ năng tự đối chiếu những năng lực phẩm 9 chất, những đặc điểm tâm sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề nghiệp trong xã hội, ở từng địa phƣơng từ đó giúp các em có kỹ năng tự đối chiếu những năng lực phẩm chất, những đặc điểm tâm sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề nghiệp đang đặt ra cho ngƣời lao động. Hoạt động hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông cần đƣợc thống nhất chặt chẽ với hoạt động hƣớng nghiệp trong xã hội, hai bộ phận này quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau mới đem lại hiệu quả cao cho hoạt động hƣớng nghiệp.2 Giáo dục hướng nghiệp Nhƣ trên đã trình bày hƣớng nghiệp là hoạt động phối hợp giữa nhà trƣờng, gia đình và xẫ hội, trong đó tập thể sƣ phạm nhà trƣờng giữ vai trò quyết định nhằm giúp HS chọn nghề trên cơ sở khoa học.
Khi ấy, tập thể sƣ phạm phải sử dụng các biện pháp giáo dục mang tính chất hƣớng dẫn, tính thuyết phục cao, không áp đặt, bảo đảm nguyên tắc hình thành hứng thú, điều chỉnh, uốn nắn động cơ chọn nghề của thế hệ trẻ sao cho có sự nhất trí cao giữa nguyện vọng của cá nhân với yêu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế; giữa năng lực cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với đòi hỏi của nghề.