CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ GIẢNG VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trên thế giới. Trong lịch sử của giáo dục đại học, thông qua công việc của mình giảng viên đã đóng góp vào những mục tiêu giáo dục chung dưới những hình thức khác nhau. Họ đã tạo nên môi trường học tập, sáng tạo ra những kiến thức, những hiểu biết mới và áp dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong thiên nhiên và trong thế giới loài người.
Trong quá trình phát triển, các trường đại học trên thế giới đã hình thành các phương pháp đánh giá khác nhau nhằm công nhận thành quả lao động của giảng viên, xây dựng các chế độ đãi ngộ tương ứng đối với đóng góp của họ và hướng các mục tiêu cá nhân của giảng viên tới mục tiêu phát triển chung của nhà trường. Thời kỳ Trung cổ Châu Âu: các trường Đại học ở Châu Âu dựa vào sinh viên để kiểm tra việc giảng dạy của giảng viên. Hiệu trưởng chỉ định một Hội đồng sinh viên, Hội đồng này có nhiệm vụ ghi chép xem giảng viên có giảng dạy theo đúng lịch trình giảng dạy quy định của trường không, nếu có sự thay đổi nhỏ nào ngoài quy định chung, Hội đồng sẽ báo cáo ngay cho Hiệu trưởng. Hiệu trưởng sẽ phạt ngay giảng viên về những vi phạm đó.
Sinh viên đóng tiền học trực tiếp cho giảng viên và lương của họ được tính theo số lượng sinh viên dự giờ học. Thời kỳ thực dân: ngay từ Thời thực dân vào thế kỷ 16 và 17 trong các trường cao đẳng và đại học ở Châu Âu, vào cuối năm học đại diện Hội đồng Quản trị và Hiệu trưởng đã dự giờ quan sát việc giảng viên đặt câu hỏi kiểm tra kiến thức cả năm học của sinh viên. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Smallwood [19, tr.146], các giảng viên chỉ hỏi các câu hỏi dễ hoặc các câu hỏi mang tính gợi ý để sinh viên dễ dàng trả lời và việc dự giờ này không đánh giá được hiệu quả giảng dạy của giảng viên thông qua đánh giá kiến 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức tích lũy của sinh viên trong 1 năm. Thời kỳ đánh giá hiện đại: đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của các phương pháp đánh giá hiện đại.
Dấu mốc quan trọng của sự phát triển là năm 1927 khi tại trường Đại học Purdue, Herman Remmers và đồng nghiệp đã công bố Bảng đánh giá chuẩn đã được kiểm nghiệm dùng cho sinh viên đánh giá giảng viên. Đến những năm 60 của thế kỷ 20 giảng viên các trường đại học và cao đẳng đã nhận thức rõ mục đích và ý nghĩa của các Bảng đánh giá giảng dạy chuẩn với mục đích cải tiến và điều chỉnh việc giảng dạy của mình trên cơ sở phân tích các kết quả thu được từ Bảng đánh giá. Theo nghiên cứu của Centra (1979) vào cuối thập kỷ 70 hầu hết các trường đại học ở châu Âu và Hoa Kỳ đã sử dụng 3 phương pháp đánh giá hiệu quả giảng dạy: đồng nghiệp đánh giá, Chủ nhiệm khoa đánh giá và sinh viên đánh giá, trong đó các thông tin thu thập được từ Bảng đánh giá của sinh viên được coi là quan trọng nhất. Từ năm 1980, phương pháp đánh giá của bản thân giảng viên đã được áp dụng nhiều hơn.
Các kết quả nghiên cứu đã đúc kết thông tin thu thập từ Bảng đánh giá của sinh viên có thể có những yếu tố thiên lệch do những cá tính hoặc tính cách của giảng viên, sĩ số trong lớp học, tải trọng và độ khó của chương trình học, phương pháp giảng dạy, lĩnh vực giảng dạy, sự hứng thú của sinh viên trước khi vào học và khả năng diễn giải vấn đề của giảng viên. Tuy nhiên qua phân tích thống kê các nhà nghiên cứu cũng đã kết luận các hệ số tương quan giữa sinh viên đánh giá và đồng nghiệp đánh giá và chủ nhiệm khoa đánh giá đạt mức chấp nhận được. Các lĩnh vực thường được tập trung để đánh giá giảng viên bao gồm: giảng dạy, nghiên cứu khoa học và dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng. Tùy vào đặc trưng của từng trường mà các lĩnh vực nêu trên có trọng số đánh giá khác nhau.
Theo kinh nghiệm ở một số nước có phát triển hệ thống đánh giá gắn với các chính sách phát triển và khuyến khích như Ốt-xtrây-li-a, Canada, Vương quốc liên hiệp Anh và Hoa Kỳ, cần gắn liền sự phát triển 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề nghiệp của cá nhân mỗi giảng viên với quy hoạch tổng thể về nhân lực của các trường đại học. Đánh giá trong giáo dục, hay nói hẹp hơn là đánh giá kết quả của việc giảng dạy và học tập, về cơ bản là một hoạt động mang tính xã hội, có tầm quan trọng hàng đầu đối với vấn đề chất lượng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc đánh giá thường xuyên có tác động tích cực đến việc nâng cao không ngừng chất lượng của quá trình dạy và học. Tuy nhiên khó khăn nhất đối với các nhà quản lý là huy động sự tham gia hiệu quả của giảng viên vào quá trình đánh giá với tư cách vừa là người được đánh giá, vừa là người hỗ trợ cho việc đánh giá.
Bởi thông thường, những đánh giá thường được nhìn nhận dưới góc độ đánh giá tổng kết, tức là chỉ mang tính “thưởng - phạt” hay “đỗ - trượt” nhằm xác nhận kết quả theo một thang điểm để xếp hạng hay tuyển chọn. Ở Việt Nam, hoạt động đánh giá giảng viên trong nhà trường cũng thường được đánh giá thể hiện qua các đợt sơ kết học kỳ, tổng kết năm học và để đánh dấu những mốc đó các nhà quản lý dùng các danh hiệu như Lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua các cấp, Giảng viên giỏi v.v… với các tiêu chí định lượng hoặc định tính theo từng giai đoạn. Những kiểu đánh giá này cũng chỉ mang tính tổng kết và đôi khi cũng để lại những dấu ấn tiêu cực như sự không hài lòng về tính khách quan của sự đánh giá và sự thờ ơ với các danh hiệu thi đua. Năm 2006, đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) do GS.
Nguyễn Đức Chính và PGS. Nguyễn Phương Nga chủ trì: “Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học của giảng viên trong Đại học Quốc gia”. Nội dung chính: xem xét và phân tích các kinh nghiệm về đánh giá giảng dạy và hoạt động nghiên cứu khoa học của một số trường đại học trên thế giới; phân tích hiện trạng đánh giá giảng dạy và nghiên cứ khoa học tại trường ĐHQGHN; xây dựng mô hình dánh giá phù hợp với thực tiễn ĐHQGHN có tính đến xu thế hội nhập toàn cầu trong giáo dục đại học; Xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên. Năm 2008, Luận án Tiến sĩ của TS.
Trần Xuân Bách: “Xây dựng quy trình đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hóa trong giai đoạn hiện nay” với nội dung xây dựng quy trình đánh giá đội ngũ giảng viên ở đại học Đà Nẵng theo hướng chuẩn hóa. Các nghiên cứu đều nhằm mục đích chung xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá, xây dựng các quy trình đánh giá theo hướng chuẩn hóa, công bố rộng rãi để thuyết phục chủ thể và khách thể của quá trình đánh giá tham gia hiệu quả vào việc nâng cao thường xuyên chất lượng của hoạt động giảng dạy. Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá giảng viên trường Đại học Y tế công cộng. Do vậy tôi chọn vấn đề này làm đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục.
Các khái niệm của đề tài 1. Quản lý Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, tổ chức, quốc gia, thời đại. Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trong tất cả các bình diện.
Khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại. Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Chính vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau với khái niệm quản lý. Theo Karl Max, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động.
Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý. Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [2, tr.480] Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhưng có nhiều quan điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động. Một số khái niệm nổi bật như: F.Taylor (1956 - 1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất hay không” Henri Fayol (1841 - 1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng “Quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Quản lý là tác động có ý thức bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể hướng tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi. Từ điển tiếng Việt viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung [16, tr.