phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cở sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường Tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề QL CTCNL ở trường phổ thông nói chung đã được một số tác giả nghiên cứu dưới hình thức giáo trình, sách tham khảo, luận văn hay bài viết, báo cáo khoa học… Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Giáo dục học. NXB Đại học Sư phạm, năm 2010 (Chương 17 - GVCNL ở trường phổ thông) của PGS. Phạm Viết Vượng [43, tr384 - 398] đã nêu lên vai trò, nhiệm vụ, phương pháp công tác cũng như yêu cầu đối với GVCNL ở trường phổ thông; Giáo trình Giáo dục học, tập 2.
NXB Đại học Sư phạm, năm 2011 (Chương 19 - Công tác của GVCNL ở trường phổ thông) của PGS. Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên). [27, tr196 - 205] Một số sách tham khảo đi sâu phân tích tâm lý lứa tuổi, đề xuất các nội dung của CTCNL ở trường phổ thông. Lựa chọn một số tình huống sư phạm và đề xuất các biện pháp giải quyết như cuốn Công tác GVCNL ở trường phổ thông của các tác giả Hà Nhật Thăng - Nguyễn Dục Quang - Nguyễn Thị Kỷ, NXB Giáo dục, năm 2001 [40] và cuốn Phương pháp công tác của người GVCN ở trường THPT, Hà Nhật Thăng (chủ biên), NXB Đại học Quốc gia, 2004.
Bài viết đi sâu vào lĩnh vực trang bị kiến thức cũng như các kỹ năng cần thiết cho sinh viên các trường Sư phạm về công tác chủ nhiệm. Tác giả Nguyễn Thanh Hằng với Sổ công tác giáo viên chủ nhiệm khối Tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2011 [19] đã đưa một số quy định, văn bản và hướng dẫn một số công việc mà GVCNL cấp TH phải làm trong năm học. Vấn đề này cũng được nghiên cứu qua các luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục như: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu của Đinh Thị Hà với đề tài Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng CTCNL cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai, năm 2003 [16] đã nêu được những cách thức rèn luyện kỹ năng làm CNL cho sinh viên từ việc tìm hiểu đối tượng, lập kế hoạch chủ nhiệm, giáo dục học sinh cá biệt. Nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Chuyên với đề tài Biện pháp QL nâng cao chất lượng CTCNL tại trường THPT Mạc Đĩnh Chi, quận Dương Kinh, năm 2009; Đề tài Một số biện pháp tăng cường quản lý của Hiệu trưởng đối với CTCNL trong các trường THPT tỉnh Bắc Ninh, năm 2005 của Nguyễn Khắc Hiền; Tác giả Nguyễn Xuân Tuyên với luận văn Biện pháp QL công tác GVCNL của Hiệu trưởng trường THPT ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay, năm 2006; Nghiên cứu của Ngô Thị Chuyên với đề tài Biện pháp QL nâng cao chất lượng CTCNL tại trường THPT Mạc Đĩnh Chi quận Dương Kinh - Hải Phòng, năm 2009; Tác giả Hà Quang Vinh với đề tài Biện pháp QL công tác GVCNL ở trường THPT Đức Hợp tỉnh Hưng Yên, năm 2011.
Các luận văn này đã nêu được tầm quan trọng của CTCNL và QL CTCNL, khảo sát thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất các biện pháp tích cực khắc phục những hạn chế của thực trạng phù hợp với đặc điểm quản lý cấp THTP, phù hợp với địa phương nơi tác giả đó nghiên cứu. Tác giả Đàm Liên Quân với đề tài: Biện pháp QL bồi dưỡng CTCNL cho giáo viên trường THPT Yên Hòa, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, năm 2012 [29] đi sâu về công tác bồi dưỡng cho GVCNL, tác giả cũng đã phân tích được thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đã đưa ra 3 nhóm giải pháp về bồi dưỡng CTCNL cho GV trường THPT Yên Hòa Hà Nội đó là: Nhóm biện pháp Tổ chức bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, nhận thức hiểu biết về công tác chủ nhiệm lớp; Nhóm biện pháp Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ GVCNL; Nhóm biện pháp bổ trợ. Đây là một trong những luận văn có chất lượng cao do PGS. Hà Nhật Thăng hướng dẫn; Tác giả Vũ Thị Hải với đề tài Biện pháp QL CTCNL ở trường THCS Ngô Quyền thành phố Hải Phòng, năm 2011; Tác giả Lê Thị Ngọc Khánh với đề tài 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Biện pháp QL công tác GVCNL ở các trường THCS huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, năm 2012 [21] hai tác giả này đã nêu được những nét đặc trưng của CTCNL trường THCS, phân tích thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng CTCNL phù hợp với thực tiễn nơi hai tác giả đó nghiên cứu.
Tuy nhiên các biện pháp QL công tác GVCNL ở cấp TH ít được quan tâm và QL CTCNL của Hiệu trưởng các trường TH huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam thì chưa có tác giả nào đề cập đến. Vì vậy tác giả chọn đề tài: “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam” để nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của mình. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.
Khái niệm quản lý giáo dục * Khái niệm quản lý Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn ở tầm quốc gia, quốc tế đều chịu một sự QL nào đó.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quân độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [7, tr480]. Trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm QL được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người và góc độ QL: Theo Mai Quang Tâm: “QL là sự tác động có ý thức của chủ thể QL để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [36, tr7] Trong QL, bao giờ cũng có chủ thể QL và đối tượng QL, quan hệ với nhau bằng những tác động QL. Những tác động QL chính là những quyết định QL, là những nội dung chủ thể QL yêu cầu đối với đối tượng QL.
Môi trường quản lý Mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý Đối tượng quản lý Sơ đồ 1. Cấu trúc của một hệ thống quản lý Tác động trên là tác động tương hỗ giữa chủ thể QL và đối tượng QL. QL là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động xã hội. Lao động QL là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển; là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện.
Quá trình QL nói chung là quá trình thực hiện bốn chức năng chính: Kế hoạch hóa (planning), tổ chức (organizing), lãnh đạo - chỉ đạo (leading- directing) và kiểm tra - đánh giá (controlling - evualuation). Chức năng kế hoạch hóa: là đưa toàn bộ hoạt động vào công tác kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, biện pháp thực hiện và bảo đảm các nguồn lực để đạt tới các mục tiêu chung của tổ chức. Thuật ngữ kế hoạch hoá vừa chỉ tính kế hoạch của hoạt động vừa thể hiện tính cấp thiết của vấn đề và vừa tính đến kết quả cuối cùng của hoạt động. Chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó.
Vì thế, thực chất của kế hoạch hoá là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch hoá, với mục 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đích, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu. Nhiều lý thuyết gia về QL cho rằng, kế hoạch là cái khởi nguyên của mọi hoạt động, mọi chức năng QL khác. Người QL, nếu không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức nhân lực và các nguồn nhân lực khác như thế nào, thậm chí họ còn không rõ phải tổ chức cái gì nữa. Người QL không thể chỉ dẫn, lãnh đạo người thuộc quyền hành động một cách chắc chắn với những kì vọng đặt vào kết quả mong đạt tới và không xác định được tổ chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu, không biết khi nào đạt được mục tiêu và sự kiểm tra trở thành vô căn cứ.
Chức năng tổ chức: là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra. Thông thường chức năng tổ chức là chức năng thứ hai trong một quá trình QL. Tuy nhiên, trong lĩnh vực QL nói chung và trong hoạt động của nhà trường nói riêng có những việc, những vấn đề nảy sinh để bổ sung hoặc hỗ trợ cho các hoạt động của hệ thống hoặc nhà trường, những hoạt động này đôi khi có tính độc lập tương đối với tổ chức hoặc bộ máy QL đang hoạt động. Khi đó, chức năng tổ chức lại là khâu đầu tiên của một quá trình QL.
Chức năng tổ chức có hai vai trò chủ yếu trong quá trình QL: Một là, vai trò hiện thực hoá các mục tiêu theo kế hoạch đã được xác định.