Chương 1. cơ sở lý luận; Chương 2. Thực trạng suy dinh dưỡng và biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du; và Chương 3. Biện pháp phòng chống nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO TRẺ 3-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu 1. Những nghiên cứu trên thế giới Năm 1754 Christian Friedrich Jumpert (Đức), đã công bố công trình nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng trưởng ở trẻ em trong đó có trình bày các số liệu đo đạc về cân nặng, chiều cao của trẻ em [Trích theo 28]. Nhưng phải đến năm 1925 R.
Martina (Đức) đã đề xuất phương pháp và dụng cụ để đo kích thước cơ thể con người. Từ đó trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu lĩnh vực này. Nhưng phương pháp của R. Martina ngày càng được bổ sung và hoàn thiện [Trích theo 28].
Cùng trong năm 1925, Tổ chức Y tế của Liên minh Quốc gia nghiên cứu về mối liên quan dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng và J. Boyd Orrda đã phát hiện ra mối liên quan trực tiếp giữa tầng lớp xã hội và sức khỏe của họ. Tác giả Brnet và Aykroyd cho rằng suy thoái kinh tế 1930 làm cho người nghèo bị SDD nhiều nhất [Trích theo 28].William phát hiện ra bệnh gọi là SDD thiếu Protein – năng lượng thể phù (Kwashiokor) [Trích theo 28]. Năm 1942 Daray Thompson đã đưa khái niệm tốc độ tăng trưởng cùng 2 đại lượng của tăng trưởng chiều cao và cân nặng như những chỉ tiêu về sức khỏe [Trích theo 23].
Năm 1984 WHO đã tổ chức một hội nghị về dinh dưỡng ở Fiji để đánh giá tình hình và kinh nghiệm phòng chống dinh dưỡng ở các nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Hội nghị kết thúc đã đưa ra một quyết định quan trọng: “Suy dinh dưỡng trẻ em có rất nhiều nguyên nhân, cho nên việc phòng chống 9 suy dinh dưỡng trẻ em không thể hoạt động riêng rẽ của từng ngành, ngành nhi, ngành phòng dịch, ngành nông nghiệp và chế biến thực phẩm, mà phải do những người cầm đầu các nước đứng ra nhận trách nhiệm phối hợp các ngành và giáo dục vận động nhân dân, các gia đình tự giác tham gia bằng khả năng và phương tiện hiện có của mình”. Hội nghị đã đưa ra việc phòng chống SDD bắt đầu từ thời kì nhi khoa chuyển sang thời kì phòng dịch [Trích theo 28]. Năm 1990, WHO thành lập Nhóm nghiên cứu về tăng trưởng của trẻ nhằm đưa ra những khuyến cáo cho việc sử dụng và giải thích một cách hợp lý về các kích thước nhân trắc áp dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu này: dữ liệu tham chiếu của Trung tâm Quốc gia về Thống kê Y học của Mỹ/WHO có những sai sót và thất bại trong việc dự đoán một cách đầy đủ sự tăng trưởng về mặt thể chất của trẻ. Những hạn chế này đã làm cản trở công tác quản lý dinh dưỡng hợp lý của trẻ nhỏ. Vì vậy cần phải có những đường tăng trưởng mới để đáp ứng cho nhu cầu trên [83]. Năm 1995, WHO đã đề nghị lấy Quần thể NCHS (National Centre of Health Satistics) của Hoa Kỳ làm Quần thể tham chiếu.
Từ trước những năm 90 của thế kỷ trước, đề nghị này được ứng dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới trong đó có cả Việt Nam. Trong đó, WHO lưu ý rằng không nên coi quần thể tham chiếu là chuẩn mà chỉ là cơ sở để đưa ra các nhận định thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế [83]. Năm 2006, WHO đã công bố bộ chuẩn tăng trưởng thứ nhất của trẻ dưới 5 tuổi, gồm các chuẩn về chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi), cân nặng theo tuổi (cân nặng/tuổi), cân nặng theo chiều cao (cân nặng/chiều cao) và BMI theo tuổi (BMI/tuổi) [84]. Theo báo cáo của UNICEF công bố ngày 2/5/2006 cho biết hơn 1/4 trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu cân, cuộc sống đang bị đe dọa.
Dinh dưỡng không đầy đủ vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn đến một nửa số ca 10 tử vong là trẻ em, khoảng 5,6 triệu trẻ em mỗi năm [Trích theo 40]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính có khoảng 500 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng trên toàn cầu, trong đó 150 triệu trẻ em ở Châu Á, chiếm 44% tổng số trẻ em dưới 5 tuổi [Trích theo 22]. Gần 3/4 trẻ em thiếu cân trên toàn thế giới đang sống ở 10 quốc gia và hơn một nửa số đó sống ở 3 nước: Bănglađét, Ấn Độ và Pakixtan. Năm 2004, tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị thiếu cân ở Bănglađét là 48%, Ấn Độ là 47% Năm 2009, nghiên cứu của Shankar Prinja và cộng sự ở Ấn Độ sử dụng tiêu chuẩn của WHO để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi cho thấy: với cùng một quần thể trẻ dưới 5 tuổi, tỷ lệ trẻ nhẹ cân khi áp dụng chuẩn tăng trưởng mới của WHO thấp hơn so với khi áp dụng chuẩn của Viện Nhi khoa Ấn Độ [88].
Tại khu vực Đông Nam Á, theo thống kê của UNICEF năm 1994 cho thấy tỉ lệ SDD còn ở mức cao như Campuchia: 52%, Lào: 40%, Mianma: 39% và Indonesia: 34% [81]. Bảng 2: Tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng thể còi tại một số khu vực năm 1980-2005 [30] Tỷ lệ % Khu vực 1980 1985 1990 1995 2000 2005 Châu Phi 40,5 39,2 37,8 36,5 35,2 33,8 Châu Á 52,2 47,7 43,3 38,8 34,4 29,9 Mỹ Latinh và Caribê 25,6 22,3 19,1 15,8 12,6 9,3 Các nước 47,1 43,4 39,8 36 32,5 29 đang phát triển Thống kê từ 1990 đến 2003 tỷ lệ SDD chung cho các nước đang phát triển cho thấy chỉ tiêu SDD cân nặng/tuổi đã giảm từ 33% xuống còn 28%, SDD chiều cao/tuổi giảm từ 41% xuống còn 31% [10]. Bảng 3:Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em các nước đang phát triển trên thế giới năm 1990 và 2003 [36] Tỷ lệ SDD Tỷ lệ SDD Vùng cân nặng/tuổi (%) chiều cao/tuổi (%) 11 1990 2003 1990 2003 Nam Á 53 47 54 45 Cận sa mạc Châu Phi 32 31 44 39 Đông Á 25 17 25 18 Mỹ Latinh và Caribê 11 7 35 15 Đông và Nam Phi 10 9 21 14 Chung 33 28 41 31 Năm 2000, Amy L.Rice, Lisa Sacco và cộng sự nghiên cứu về tử vong ở trẻ em bị SDD tại các nước đang phát triển nhận thấy có mối liên quan giữa SDD và bệnh tiêu chảy [58]. Năm 2002, Nitabhandari và cộng sự nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng trẻ em ở các gia đình giàu có tại phía Nam New Dheli, Ấn Độ cho thấy tỉ lệ SDD có liên quan mật thiết tới học vấn và tình trạng kinh tế gia đình [77].
Theo báo cáo của Quỹ Nhi Đồng của Liên Hợp Quốc UNICEF năm 2008, trên thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi được xem là thiếu cân (một chỉ tiêu chính của “suy dinh dưỡng”), trong đó có khoảng 20 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD nặng cần được chăm sóc khẩn cấp, phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi, và Mỹ Latin. Trong số này có khoảng 2 triệu trẻ em từ Việt Nam [82]. Những nghiên cứu ở Việt Nam Trẻ từ 0 đến 6 tuổi là giai đoạn phát triển thể lực, trí lực quan trọng và có nguy cơ cao khi bị thiếu hụt dinh dưỡng. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở các nước đang phát triển trong đó có nước ta, giai đoạn trẻ có nguy cơ SDD cao nhất là từ 12 đến 24 tháng tuổi và tỷ lệ SDD giữ ở mức cao cho đến 60 tháng tức là 5 tuổi [7,9].
Các nhà dinh dưỡng cũng đúc kết được rằng những trẻ bị SDD nặng trong 2 - 3 năm đầu của cuộc sống sẽ ảnh hưởng đến phát triển thể lực, đặc biệt là chiều cao của trẻ ở tuổi vị thành niên, trí lực của những trẻ này cũng kém hơn những trẻ khác. 12 Năm 1974, cuốn “Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam” của Nguyễn Quang Quyền ra đời [37]. Cuốn sách này có ý nghĩa rất quan trọng cho việc nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam. Năm 1975, cuốn “Hằng số Sinh học người Việt Nam”, do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên ra đời, đã tổng hợp kết quả nghiên cứu từ năm 1960-1972 trên đối tượng chủ yếu là trẻ em, học sinh thành thị ở phía Bắc nước ta, làm cơ sở cho nhiều công trình nghiên cứu tăng trưởng trẻ em sau này [6].
Ngày 13/6/1980 Viện dinh dưỡng Quốc gia được thành lập để nghiên cứu các vấn đề về dinh dưỡng có tầm quan trọng hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng Việt Nam. Viện đã tiến hành các cuộc tổng điều tra dinh dưỡng, dịch tễ học các bệnh thiếu dinh dưỡng Protein - năng lượng, đồng thời tổ chức các cuộc hội thảo nuôi con bằng sữa mẹ, hội thảo hội nghị phòng chống thiếu Vitamin A [52, 53]. Năm 1984 Đào Ngọc Diễn, Nguyễn Trọng An và cộng sự với công trình nghiên cứu “Tình hình suy dinh dưỡng nặng trong năm năm 1978 - 1982”. Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ SDD nặng đều tăng rõ rệt và nhiều nhất là năm 1982, thời điểm vào viện cao nhất là tháng 9, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng SDD không những gặp ở gia đình đông con mà còn gặp ở những gia đình mới đẻ con thứ nhất, thứ hai, thiếu máu là triệu trứng thường gặp nhất ở trẻ SDD (chiếm 77%) [16].
Năm 1991, Đào Huy Khuê nghiên cứu cắt ngang gần 50 chỉ tiêu nhân trắc và mô tả của 1.478 học sinh phổ thông 6 - 17 tuổi ở thị xã Hà Đông, bao gồm các đặc điểm hình thái, bề dày lớp mỡ dưới da và đặc điểm phát dục. Tác giả cho rằng hầu hết các thông số hình thái đều tăng dần theo tuổi ở hai giới, nhưng nhịp độ tăng trưởng không đồng đều theo tuổi và giới tính [32]. Năm 1994, tác giả Nguyễn Hồng Vân với công trình nghiên cứu “Mô hình suy dinh dưỡng trong 10 năm (1985 - 1994) tại bệnh viện đa khoa tỉnh 13 Thanh Hóa”, cho thấy từ năm 1985 - 1994, tại Thanh Hóa số bệnh nhân SDD nặng vào viện đã giảm xuống rõ rệt. Hàng năm số bệnh nhân vào viện tập trung vào tháng 8, 9, 10, đây là mùa mưa bão mà Thanh Hóa là một trong số những vùng có nhiều mưa bão nhất nước ta.
Tuổi mắc bệnh chủ yếu là trẻ dưới 2 tuổi, chiếm 80,7% [50].