Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, hệ thống các biện pháp ngăn chặn được quy định cụ thể trong Chương VI BLTTHS năm 2003 và tại Chương VII BLTTHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2018, bao gồm: bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc có giá trị để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú. Riêng BLTTHS năm 2015 có thêm biện pháp: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm hoãn xuất cảnh. Tuy vậy, khái niệm về biện pháp ngăn chặn không được nêu trong luật.
Trong sách báo pháp lý của nước ta, các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn. Trong giáo trình tố tụng hình sự của trường Đại học Luật Hà Nội, khái niệm biện pháp biện pháp ngăn chặn được hiểu như sau: Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can bị cáo hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Theo tác giả Phạm Thanh Bình - Nguyễn Vạn Nguyên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1993, thì biện pháp ngăn chặn bao gồm việc bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm là những biện pháp cưỡng chế cần thiết về mặt tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và trong một số trường hợp được pháp luật quy định, có thể áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố (như bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi 6 hành án. Trong cuốn sách “Tôi phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự” Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1995, thì “Biện pháp ngăn chặn là một loại biện pháp cưỡng chế do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả người bị án khi các cơ quan này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội.
Biện pháp ngăn chặn gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm” Trong cuốn sách, “Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Duy Thuần, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 1999, thì “Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự bao gồm bắt, tạm giữ, tam giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị tình nghi nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc cản trở điều tta, truy tố, xét xử” Theo tác giả, khái niệm biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam được trình bày cơ bản gống nhau. Các khái niệm trên đều chỉ ra được nội dung cơ bản của khái niệm các biện pháp ngăn chặn, đó là: - Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự. - Đối tượng áp dụng là bị can, bị cáo và người chưa bị khởi tố (người bị tình nghi) - Mục đích của biện pháp ngăn chặn là nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Theo tác giả, khái niệm về biện pháp ngăn chặn ngoài việc nêu rõ tính chất, mục đích và đối tượng áp dụng của biện pháp ngăn chặn cần phải xác định đúng chủ thể áp dụng.
Chủ thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn không chỉ là CQĐT, VKS và Tòa án. Theo quy định của pháp luật, một số cơ quan khác cũng được áp 7 dụng biện pháp ngăn chặn đó là người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng… trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang thì bất cứ ai trong thấy đều có quyền bắt. Do vậy, để xác định nội hàm trong khái niệm và để phân biệt giữa biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và biện pháp ngăn chặn hành chính là rất quan trọng. Từ sự phân tích trên đây có thể rút ra khái niệm về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự như sau: “Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là loại biện pháp cưỡng chế do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự có thể áp dụng đối với người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và người bị án khi những cơ quan và người có thẩm quyền nêu trên có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như khi cần bảo đảm thi hành án.
Biện pháp ngăn chặn gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh”. Mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 1. Mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Mục đích của áp dụng biện pháp ngăn chặn là vấn đề các cơ qua tiến hành tố tụng cần đạt được khi áp dụng khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn đó.
Theo quy định của Điều 109 BLTTHS năm 2015 (Điều 79 BLTTHS năm 2003) thì các biện pháp ngăn chặn được áp dụng để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Do vậy, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm đạt các mục đích sau đây: - Để kịp thời ngăn chặn tội phạm bao gồm: + Ngăn chặn tội phạm không cho tội phạm đang được chuẩn bị xảy ra. + Ngăn chặn không cho hành vi phạm tội đang được thực hiện tiếp tục tiếp diễn 8 + Ngăn chặn kẻ phạm tội thực hiện tội phạm mới. - Bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Các biện pháp ngăn chặn được áp dụng để bảo đảm các điều kiện pháp lý cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án theo đúng các quy định của pháp luật như bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo trong hoạt động tố tụng khi cần thiết, bảo đảm bản án đã tuyên có đủ điều kiện thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Đồng thời cũng bảo đảm tính chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng đó như: Bảo đảm bí mật về điều tra, không cho bị can bị cáo có điều kiện để thông cung… Tùy theo từng giai đoạn tố tụng mà các biện pháp ngăn chặn chỉ có mục đích bảo đảm cho một loại công tác như điều tra, hoặc truy tố, hay xét xử, thi hành án. Còn ở phạm vi cả quá trình tố tụng hình sự thì mục đích cuối cùng của các biện pháp ngăn chặn do trong số những người có thẩm quyền áp dụng trong bất cứ giai đoạn nào cũng là bảo đảm cho việc quyết định của Tòa án được khách quan, chính xác và được thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật. Trên thực tế thì mối biện pháp ngăn chặn cụ thể ở một giai đoạn tố tụng đều do một cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng với mục đích là bảo đảm cho cơ quan đó hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình do pháp luật quy định. Chính vì vậy mà tại các Điều 240 BLTTHS 2015 (Điều 166 BLTTHS năm 2003) quy định: “sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn…”[25] Điều 278 BLTTHS 2015(Điều 177 BLTTHS năm 2003) quy định: “Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn…”.
Mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn ở mỗi giai đoạn tố tụng có thể là không giống nhau. Ví dụ: Ở giai đoạn điều tra, CQĐT áp dụng biện pháp ngăn chặn với mục đích ngăn ngừa tội phạm và bảo đảm các điều kiện pháp lý để hoàn thành nhiệm vụ điều tra như: bảo đảm bắt giữ ngay người phạm tội, khi cần có thể lấy ngay lời khai của bị can, tổ chức đối chất không để cho thông cung hoặc xóa bỏ dấu vết tội phạm… Trong gia đoạn truy tố, VKS áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm mục đích bảo 9 đảm sự có mặt của bị can theo giấy triệu tập, khi cần có thể lấy lời khai được ngay và bảo đảm không cho bị can trốn, đảm bảo việ truy tố và sau khi quyết định việc truy tố, tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong giai đoạn xét xử, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm bảo đảm sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa, việc tạm giam các bị cáo còn bảo đảm việc ngăn ngừa không cho các bị cáo thông cung, đe dọa người làm chứng, bảo đảm việc điều tra tại phiên tòa được khách quan và thi hành ngay được bản án đã tuyên khi có hiệu lực pháp luật.