CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN I- CÁC KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN: 1- Khái niệm về nghiên cứu khoa học: Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại khá nhiều khái niệm khác nhau về nghiên cứu khoa học, những khái niệm này cũng chưa thống nhất, một số khái niệm không thể hiện được ý nghĩa của nghiên cứu khoa học là: những khám phá tìm tòi các lý thuyết khoa học mới, các nguyên lý công nghệ mới. Với Luận văn “ Biện Pháp đảm bảo chức năng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh “, Chúng tôi sử dụng khái niệm nghiên cứu khoa học sau: “ Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là chưa phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới” 2. Khái niệm về Đề tài nghiên cứu là: Đề tài nghiên cứu là: “ Vấn đề mà nhà khoa học nhằm nghiên cứu giải quyết hay thể hiện … “, trong góc độ thống kê khoa học thì đề tài nghiên cứu ở mức độ nào đó được sử dụng đồng nghĩa với công trình nghiên cứu. Ví dụ trong Thông tư 45/2001/TTLT BTC-BKHCNMT, ngày 18/06/2001, của Liên Bộ Tài chính và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường qui địmh mức chi và nội dung chi cho “ Đề tài nghiên cứu khoa học“.
3- Khái niệm về kết quả nghiên cứu khoa học: 2 Vũ Cao Đàm, đánh giá NCKH, NXB khoa học kỹ thuật, 2005, tr. 15 6 Kết quả nghiên cứu khoa học là những tri thức khoa học, tuy nhiên những tri thức khoa học đó không thể tự thể hiện được, mà nó phải thể hiện qua các vật mang tri thức. Vật mang đó có thể là: vật mang vật lý, vật mang công nghệ và vật mang xã hội: a- Vật mang vật lý: Đó là: - Các loại bài báo, báo cáo khoa học, - Mẫu vật thu được trong các công cuộc tìm kiếm, điều tra, - Mẫu vật thu được từ các di chỉ khảo cổ, - Các loại thiết bị lưu trữ dữ liệu như: băng ghi âm, băng hình, các thiết bị lưu thông tin trong máy vi tính … Đối với Trường Đại học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, thì các bài báo, báo cáo khoa học có qui trình đăng ký, nghiệm thu dễ dàng và kinh phí thực hiện ít hơn rất nhiều lần so với công trình nghiên cứu các cấp 3. Qua thực tế xem xét các báo cáo khoa học được đăng trên tập san khoa học, hoặc được báo cáo tại các Hội nghị khoa học của Trường phần nhiều các báo cáo này chỉ đưa ra luận điểm khoa học chứ chưa chứng minh luận điểm; Vì vậy trong luận văn này chúng tôi cho rằng các bài báo, báo cáo khoa học là các công trình nghiên cứu chưa được thể hiện đầy đủ, khi thống kê số liệu chúng tôi sẽ ghi rõ số công trình nghiên cứu có tính, hay không tính cả các bài, báo cáo khoa học.
b- Vật mang công nghệ: - Mẫu vật liệu mới, - Mẫu sản phẩm mới, 3 Vấn đề này sẽ được trình bày rõ trong phần giao nhận, nghiệm thu và thanh toán công trình nghiên cứu của Trường. 7 - Mẫu công cụ, máy móc, phương tiện mới, - Mẫu của một nguyên lý công nghệ mới. c- Vật mang xã hội: Vật mang xã hội có thể là cá nhân một chuyên gia, một người thợ được huấn luyện tay nghề, một nhóm thợ chuyên môn, hoặc một nhóm chuyên gia… Dù vật mang dưới dạng hình thức nào, thì khi thực hiện thống kê nghiên cứu khoa học chúng ta cũng coi những vật mang đó là những kết quả nghiên cứu đã thực hiện được. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn thì vật mang chủ yếu được được thể hiện dưới dạng các loại bài báo, báo cáo khoa học, ấn bản sách, hoặc vật mang xã hội.
4- Những đặc điểm của nghiên cứu khoa học: Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những tri thức mà khoa học chưa hề biết đến. Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt các đặc điểm khác của nghiên cứu khoa học mà nhà nghiên cứu, cũng như người và cơ quan quản lý nghiên cứu cần phải quan tâm xử lý những vấn đề về mặt phương pháp luận, và việc tổ chức nghiên cứu. Những đặc điểm của nghiên cứu khoa học đó là: 4.1 Tính mới: Tính mới là thuộc tính quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học và được thể hiện rõ ngay trong khái niệm về nghiên cứu khoa học “ là tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết … “. Khác với lao động trong các lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất người lao động dựa vào quy trình thiết kế sẵn để thực hiện, thì hoạt động nghiên cứu khoa học là một loại lao động đặc biệt, là lao động sản sinh ra tri thức mới; đây là loại lao động sáng tạo, mặc 8 dù nó cũng có những nguyên tắc, nguyên lý và phương pháp riêng; nhưng nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có hệ thống tri thức khoa học và sự sáng tạo trong nghiên cứu mà không phải ai cũng có, và không phải xuất hiện bất kỳ lúc nào.
Chính vì thế, việc quản lý nghiên cứu khoa học mà chỉ dùng những biện pháp hành chính là không đủ và không hiệu quả, cần phải có những cơ chế, chính sách tạo điều kiện và về vật chất, động viên tinh thần, tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi, thoải mái để khuyến khích tạo động lực, sự hứng khởi và niềm say mê cho nhà nghiên cứu phát huy sánbg tạo.2 Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu khoa học đạt được nhờ phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm quy về những điều kiện hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau.3 Tính thông tin: Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng thông qua các vật mang. Tuy nhiên, dù là thể hiện dưới dạng vật mang nào thì sản phẩm của nghiên cứu khoa học luôn mang đặc trưng thông tin. Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ và các tham số đi kèm quy trình đó… 4.4 Tính khách quan: Tính khách quan vừa là đặc điểm của nghiên cứu, vừa là tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học. Trong xã hội học khoa học người ta xem đó là chuẩn mực giá trị.5 Tính rủi ro: 9 Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể gặp phải thất bại, trong nghiên cứu khoa học người ta gọi là rủi ro.
Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân, như: thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy, trình độ kỹ thuật của thiết bị thí nghiệm, quan sát, năng lực xử lý thông tin của người quan sát còn hạn chế, giả thuyết khoa học đặt sai, những tác nhân bất khả kháng khác … Ngay cả khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn chịu những rủi ro trong áp dụng. Người ta đã thống kê mức độ rủi ro cho từng loại nghiên cứu sau: (Bảng 1 ) 4 , Thống kê tỷ lệ rủi ro trong nghiên cứu: Các loại hình nghiên cứu Mức độ thành công Nghiên cứu cơ bản Dưới 5 % Nghiên cứu ứng dụng 50 % - 60 % Triển khai 80 % - 90 % Tuy nhiên, trong khoa học, rủi ro cũng được xem là một kết quả. Kết quả đó cũng mang ý nghĩa về kết luận của nghiên cứu khoa học, mà nội dung là các giả thuyết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không tồn tại quy luật, hoặc giải pháp như dự kiến. Nó giúp cho các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm lên lối mòn, tránh lãng phí các nguồn lực nghiên cứu.6 Tính kế thừa: Nghiên cứu khoa học là tìm tòi phát hiện ra những tri thức mới, muốn tìm tòi phát hiện được tri thức mới thì bao giờ người nghiên cứu cũng phải dựa trên những tri thức khoa học đã có.
Mỗi nghiên cứu phải kế thừa những kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác xa nhau.7 Tính cá nhân: 4 Vũ Cao Đàm, đánh giá NCKH, NXB Khoa học kỹ thuật, 2005, tr.18 10 Nghiên cứu khoa học là một hoạt động sáng tạo sản sinh ra tri thức mới, nên dù một công trình nghiên cứu khoa học do tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định. Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy và chủ kiến riêng của cá nhân, tức là luận điểm khoa học của cá nhân. Trong nghiên cứu khoa học, đối với với các công trình nghiên cứu do tập thể tham gia người ta phân ra là: chủ đề tài và người tham gia nghiên cứu. Chủ đề tài là người đưa ra luận điểm khoa học, người tham gia nghiên cứu thực hiện từng lĩnh vực theo sự phân công.
Hiện nay nhiều trường hợp những điều tra viên đi phỏng vấn, điều tra thu thập các bảng câu hỏi, số liệu người ta cũng tính là tham gia nghiên cứu đề tài khoa học chúng tôi cho rằng như vậy chưa thực sự đúng với khái niệm về nghiên cứu khoa học.8 Tính trễ trong áp dụng: Lịch sử nghiên cứu khoa học cho thấy, một kết quả nghiên cứu không bao giờ có thể áp dụng ngay sau khi nghiên cứu thành công, mà luôn có một khoảng cách thời gian, khoảng cách đó được gọi là “ độ trễ “. 5- Khái niệm về nhân lực nghiên cứu khoa học & công nghệ: - Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của là: “ Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó hoạt động trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia một cách thường xuyên ( hệ thống ) vào hoạt động KH&CN “ 5. Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động có hệ thống có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra kiến thức khoa học, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học và công nghệ vào đời sống và xã hội.