CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THCS ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy và học, góp phần cải tiến, hoàn thiện hơn công tác quản lý giáo dục. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã trình bày về đối tượng, phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục, khái niệm, các chức năng quản lý giáo dục, thống nhất mục tiêu quản lý và tính đặc thù quản lý nhà trường phổ thông; ông quan niệm rằng: “Quản lý trường học chủ yếu là quản lý quá trình dạy học” [35]. Tác giả Hà Thế Ngữ đã nêu lên mục tiêu, nguyên tắc quản lý giáo dục; bước đầu tìm hiểu quy luật quản lý giáo dục [33].
Tác giả Hà Sỹ Hồ và Lê Tuấn cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo việc quản lý chuyên môn là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường” [22]. Biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng cho GV và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để xây dựng tiềm lực chuyên môn cho đội ngũ GV cũng là biện pháp được tác giả Nguyễn Văn Lê chú trọng trong các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng [27]. Tác giả Trần Kiểm đã trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, có phần hiện đại về cách tiếp cận, mô hình quản lý, đồng thời chỉ ra một số tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà trường của Hiệu trưởng, các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy và học…. Vấn đề quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường được nghiên cứu có hệ thống trong nhiều công trình của các tác giả như: Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc…Các tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, việc đổi mới PPDH, các yếu tố liên quan đến quá trình dạy học…Bên cạnh đó, một số giáo trình của Trường đại học Giáo dục, Học viện Quản lý giáo dục, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam …cũng đã trình bày những vấn đề cơ bản của hoạt động quản lý dạy học.
Trong các chương trình đào tạo Thạc sỹ LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com quản lý giáo dục cũng có luận văn của một số tác giả đã nghiên cứu trực tiếp về công tác quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều khái quát hoá được bản chất của quá trình dạy học và phân tích một cách biện chứng các yếu tố tác động đến quá trình dạy học nói chung và nêu lên được thực trạng cùng các biện pháp cụ thể phù hợp với thực tiễn hoạt động quản lý giáo dục ở địa phương. Do đó các công trình thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và nghiên cứu thực tiễn đối với hoạt động quản lý giáo dục trên từng địa phương, đồng thời cũng đóng góp vào việc xây dựng nên nền tảng hệ thống các biện pháp quản lý giáo dục trong cả nước. Dù vậy, trước xu thế hội nhập, toàn cầu hoá và những yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, cùng với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ thông tin, đòi hỏi GD&ĐT cần phải có những đổi mới căn bản, toàn diện: là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến các cơ sở GD&ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Trong đó đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý của người Hiệu trưởng là hết sức quan trọng, mà trọng tâm là các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Có thể thấy, quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đang được nhiều người quan tâm, có nhiều luận văn đã và đang tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. Các luận văn đều đưa ra thực trạng quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng các trường, các địa phương, từ đó đưa ra các biện pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, mỗi địa phương, mỗi nhà trường có những đặc điểm riêng nên các biện pháp quản lý hoạt động dạy học cũng có những sự khác nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường THCS nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học tuy LUAN VAN CHAT LUONG download8 : add luanvanchat@agmail.com không phải là mới, song sẽ là mới thể hiện ở những nét riêng về đặc điểm, về cách quản lý, về biện pháp và về cách áp dụng các biện pháp. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công, hợp tác lao động.
Quản lý là một hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội, mọi hoạt động phổ biến diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Có thể nói quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất và quan trọng nhất. Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn bao giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý được C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó.
Một người đọc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều kiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [30].Mác đã chỉ ra bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt mục tiêu chung. LUAN VAN CHAT LUONG download9 : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, vì vậy khi bàn về khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [19]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [15]. Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [32].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong đó tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [29]. Quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể quản lý luôn có tác động qua lại và chịu tác động của môi trường. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
Vì vậy, người quản lý ngoài những yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất còn phải nhạy bén và linh hoạt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của mình. Mặc dù nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý nhưng đều có một số điểm chung và thống nhất đó là: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Chức năng quản lý Có nhiều ý kiến khác nhau về phân loại chức năng quản lý, tuy nhiên tựu chung lại có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. LUAN VAN CHAT LUONG download10: add luanvanchat@agmail.com - Chức năng kế hoạch hoá: Là chức năng khởi đầu, là khâu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý.
Kế hoạch là bản thiết kế, là tiền đề của mọi quá trình quản lý, là quá trình xác định mục đích, mục tiêu đối với tương lai của tổ chức và con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu và mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: xác định, hình thành mục tiêu; xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này; xác định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó. - Chức năng tổ chức: Là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau.
Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực. - Chức năng chỉ đạo: Là quá trình nhà quản lý tác động đến các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được mục đích của tổ chức.