phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn được trình bày trong 3 chương có tên như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng quản lí HĐD-H ở Trường Đại học Điện lực Chƣơng 3: Biện pháp quản lí HĐD-H nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong trường Đại học Điện lực Cuối luận văn là phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu Từ hơn hai nghìn năm trước đây, trên thế giới đã có rất nhiều nhà chính trị, tư tưởng nghiên cứu về quản lý và đưa ra những luận điểm về quản lý, đồng thời áp dụng vào thực tế và đã có những thành công lớn trong lĩnh vực này. Ở phƣơng Đông, nổi lên hai nền văn hoá lâu đời đó là Trung Hoa cổ đại và Ấn Độ cổ đại.
Đặc biệt là Trung Hoa cổ đại đã sản sinh ra những nhà tư tưởng về quản lý như Khổng tử (551 - 479 Tr CN), Mạnh tử (372 - 289 Tr CN), Hàn Phi Tử (280 - 233 Tr CN), Thương Ưởng (390 - 338 Tr CN), v. Tuy tư tưởng về quản lý của họ có khác nhau về quan điểm, như Khổng Tử, ông chú trọng về “đức trị” để quản lý xã hội và cai trị dân. Còn Hàn Phi Tử, Thương Ưởng thì thiên về “pháp trị”. Nhưng cho đến nay, những quan điểm trên vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách quản lý của các nước châu Á.
Ví dụ nước Nhật bản, họ coi sự thành công về kinh tế của ngày hôm nay là do sự kết hợp hài hoà giữa chủ nghĩa tư bản phương Tây với tư tưởng Khổng giáo về quản lý kinh tế ở đất nước này. Ở phƣơng Tây cổ đại, thì có nhà triết học Socrat (Thế kỷ IV - III Tr CN) cũng đề cập đến quản lý. Còn Hy lạp cổ đại thì có Platon (427 - 346 Tr CN). Theo ông, muốn cai trị nước phải biết đoàn kết dân lại và phải vì dân, tiêu chuẩn của người đứng đầu là ham hiểu biết, trung thực, tự chủ, điều độ, ít tham vọng về vật chất và phải được đào tạo kỹ lưỡng.
Trong thời kỳ lịch sử cận đại thì có Chales Babrage (1792 – 1871), H. là những người đã đóng góp cho khoa học quản lý và làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn. Lịch sử Việt nam đã ghi lại những tư tưởng QL có từ xa xưa. Thời kỳ tiền Lê, tư tưởng QL là pháp trị.
Thời kỳ nhà Lý, tư tưởng chủ đạo trong QL là đức trị. Nhưng sang thời hậu Lê thì hướng cả vào đức trị và pháp trị. Trong tác phẩm “Đức trị và pháp trị trong nho giáo”, Giáo sư Vũ Khiêu phân tích về ảnh hưởng của đường lôi pháp trị của triều đại Lê Thánh Tông như sau: “. Có thể nói đó là thời kỳ kết hợp hài hoà giữa đức trị và pháp trị ở đỉnh cao của văn hoá dân tộc” [20, tr33].
Như vậy, tư tưởng QL thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn của lịch sử. Bước vào thế kỷ 21, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, tri thức được coi là nguồn lực quyết định sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế, GD và QLGD là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần cho sự phát triển của đất nước ta. Thời kỳ gần đây, chúng ta đã có hàng loạt thành tựu khoa học quản lý nói chung, khoa học QLGD nói riêng. Mặc dù khoa học QLGD ở nước ta còn non trẻ nhưng phát triển nhanh cả về cơ sở lý luận và thực tiễn.
Sự nghiệp đổi mới GD ở nước ta hiện nay cho thấy công tác nghiên cứu về QLGD có vai trò 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rất quan trọng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề QLGD, nâng cao chất lượng GD&ĐT của Việt nam ở nhiều góc độ khác nhau và những biện pháp quản lý HĐD-H nhằm nâng cao chất đào tạo của các tác giả, nhà nghiên cứu và các nhà QLGD như: Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Ngọc Quang,. Trong kỷ yếu Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ III, (6/2002) và trong Chiến lược phát triển GD 2001 – 2010, Bộ GD&ĐT, cũng đề cập đến tính cấp thiết của vấn đề QL và đổi mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc ĐH. Nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII “Về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000” đã chỉ rõ: "GD&ĐT hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng D-H trong các nhà trường, nhằm nhanh chóng đưa GD&ĐT đáp ứng yêu cầu mới của đất nước.
Thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp XD và phát triển đất nước" [21]. Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: "Tiếp tục nâng cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, PPD-H, hệ thống trường lớp và hệ thống QLGD, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" [22]. Trong bài tham luận tại Hội thảo GDĐH trước những thách thức đầu thế kỷ 21 tổ chức mới đây ở Việt Nam, Giáo sư Lâm Quang Thiệp, nguyên Vụ trưởng Vụ Đại học, cho rằng những vấn đề quan trọng cần lưu ý trong khi áp dụng vào GDĐH Việt Nam, những tư tưởng của Hội nghị Paris tổ chức cuối năm 1998 thảo luận xung quanh 4 thách thức chủ yếu mà GDĐH phải đối mặt trong thế kỷ 21 là sự phù hợp, tăng cường chất lượng, quản lý và cung cấp tài chính và hợp tác quốc tế. Nghiên cứu về vấn đề quản lý HĐD-H đã có nhiều tác giả như: Phan Tiềm (2002), Giang Lê Nho (2006), Trịnh Văn Dũng (2006), Đỗ Văn Tải (2006),… Trong quá trình GD, HĐD-H là hoạt động trọng tâm, quyết định sự thành công của quá trình GD.
Từ đó việc quản lý HĐD-H là một vấn đề quan trọng của một trường, của ngành GD và của toàn xã hội. Một nhà trường nói chung và Trường Đại học Điện lực nói riêng, việc quản lý giảng dạy của GV và học tập của SV là nhiệm vụ hàng đầu, trọng tâm và then chốt. Vận dụng các kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học chuyên ngành QLGD tác giả sẽ nghiên cứu thực trạng quản lý HĐD-H của nhà trường, từ đó đề xuất “Một số biện pháp quản lý HĐD-H nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong trường Đại học Điện lực”. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.1 Quản lý và các khái niệm liên quan đến vấn đề về quản lý 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người. Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Lý luận về quản lý vì vậy được hình thành và phát triển qua các thời kỳ và trong các lý luận về chính trị, kinh tế xã hội.
Tuy nhiên chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần dần hình thành các “lý thuyết quản lý”. Taylor phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: Người QL và đối tượng bị QL. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị.
Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau: - K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [31, tr. Taylor (1856 – 1915) là người được mệnh danh là cha đẻ của lý luận quản lý khoa học, đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ”. “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [16, tr.
- Henry Fayol (1841 – 1925) thì lại coi quản lý là một loại công việc đặc thù, khác với các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc lập, phát huy tác dụng riêng có của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể nào thay thế được. Ông nói về nội hàm của khái niệm quản lý như sau: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [22, tr. Năm yếu tố trên đã tồn tại như những chuẩn mực được tuân theo một cách phổ biến trong quản lý hiện đại. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [30, tr.
- Mary Parker Follett (1868 – 1933) đã có những đóng góp lớn lao trong thuyết hành vi trong quản lý khẳng định: “Quản lý là một quá trình lao động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại” [14, tr. Drucker luôn nhấn mạnh QL sinh ra từ thực tiễn và trở về với thực tiễn. Ông quan niệm: “Quyền uy duy nhất của QL chính là thành tựu mà nó có thể đạt được” [22, tr. - Theo Đại từ điển tiếng Việt: quản lý là “tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”, là “trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì” [51, tr.