mở đầu hay sau đó? Thông điệp gồm: slogan, tên, nhãn mác gửi thông điệp, logo, phần thông tin việc bố cục thông điệp việc sắp xếp sự xuất hiện của các thành phần đó một cách khéo léo đảm bảo gây ấn tượng cho đối tượng nhận tin, các cách bố cục trên đã tạo thông điệp còn việc thiết kế cấu trúc tổng thể của thông điệp là việc quyết định có để xuất hiện những yếu tố: tên, logo, slogan, thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm/dịch vụ hay không. Hình thức thông điệp: Thông qua các phương tiện truyền thông tới người nhận tin là cách thông điệp được thể hiện, điều đó được nhìn thấy trực tiếp yếu tố đầu tiên của hình thức thông điệp là phải gây được ấn tượng với người nhận tin. Để thu được chú ý: thông điệp phải mang tính mới lạ, tương phản, kích cỡ, vị trí đặc biệt, hình ảnh và tiêu đề lôi cuốn… Bản chất thiết kế hình thức thông điệp và chọn công cụ mã hóa phù hợp với các công cụ truyền thông để đem lại hiệu quả cho việc truyền thông thông điệp: - Phương tiện truyền thông là: ấn phẩm, báo giấy, tạp chí nên tập chung mạnh vào việc chọn tiêu đề, hình thức minh họa, hình ảnh, trang trí, màu sắc, … - Radio: giọng nói, âm thanh, ngôn ngữ… 13 - Tivi: kịch bản, âm thanh, tốc độ chuyển động, hình ảnh: hình ảnh tĩnh hay động… Một thông điệp khi thiết kế xong phải đảm bảo được sự kết hợp hài hòa giữa 3 yếu tố: nội dung, cấu trúc và hình thức; đồng thời cùng đảm bảo khách hàng dễ dàng tiếp cận tới thông điệp, phù hợp với nhu cầu mong muốn và quan điểm của nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Tạo độ tin cậy của nguồn tin Hiệu quả của truyền thông ngoài dựa vào thông điệp, kênh truyền thông, người nhận tin còn phụ thuộc vào độ tin cậy của nguồn phát tin, mức độ tin cậy của nguồn phát tin càng cao càng tạo độ tin cậy của nguồn tin là việc chọn người phát thông điệp, người mà được chọn thường là những người đóng vai trò “định hướng dư luận”: các chuyên gia và các ngôi sao nổi tiếng,… Ba yếu tố tạo ảnh hưởng tới độ tin cậy của nguồn tin: - Tính chuyên môn: Mỗi sản phẩm/dịch vụ yêu cầu có một chuyên môn khác nhau người phát tin là người được người nhận tin đánh giá là sự am hiểu cần thiết tạo lên sự tin tưởng.
- Mức độ tin cậy: là nguồn tin được khách hàng cảm nhận có độ khách quan tới đâu ở mức độ nào và tính trung thực như thế nào. - Tính khả ái: miêu tả sự hấp dẫn của nguồn tin (hài hước, tự nhiên…). Thu thập thông tin phản hồi Khi thông điệp được truyền đi theo đúng kế hoạch, doanh nghiệp phải đánh giá hiệu quả của chương trình truyền thông: ý kiến phản hồi, sự thay đổi về trạng thái của khách hàng mục tiêu sao cho đúng với tiêu chuẩn mà mục tiêu truyền thông đề ra Những nội dung cơ bản cần tìm hiểu: - Khách hàng có là người thực sự nhận được thông tin hay không? 14 - Khách hàng mục tiêu nhận biết về nhãn hiệu sản phẩm/dịch vụ là bao nhiêu? - Khách hàng mục tiêu dùng thử sản phẩm/dịch vụ trong số những người đã được nhận biết? - Số lượng khách hàng hài lòng ? Để hiểu rõ được thông tin phản hồi phải tạo ra cơ chế thu nhận thích hợp sao cho kênh truyền thông hoàn chỉnh: thông qua các phiểu hỏi đặt ở những nơi dễ dàng tiếp cận khách hàng, con số thống kê trong doanh thu từ khách hàng mới…. Xác lập hỗn hợp xúc tiến và ngân sách dành cho xúc tiến hỗn hợp 1.
Cách xác lập hệ thống xúc tiến hỗn hợp Trong quá trình diễn biến tâm lý của người nhận tin được nhận từ những thông điệp và kênh truyền thông khác nhau. Song cho dù có sự khác nhau đó, các kênh truyền thong đã tác động vào khách hàng mục tiêu đều phải thống nhất và thích nghi với những quy luật diễn biến tâm lý. Ba giai đoạn diễn biến tâm lý đã mang tính quy luật của người nhận tin đó là giai đoạn liên hệ, là giai đoạn tình cảm và là giai đoạn hành vi. Với từng mô hình cần có những hoạt động truyền thông, kênh truyền thông và thông điệp riêng để phù hợp và để đáp ứng yêu cầu tại từng giai đoạn diễn biến tâm lý đó [10].
Vì vậy các Công ty khác nhau thường sử dụng những hỗn hợp xúc tiến khác nhau. Các Công ty luôn luôn tìm những phương thức mới để phối hợp giữa quảng cáo, tuyên truyền, bán hàng và xúc tiến bán sao cho phù hợp có hiệu quả. Các Công ty vẫn có thể thay thế phương tiện truyền thông này bằng một phương tiện truyền thông khác nếu cảm thấy nó phù hợp và kinh tế hơn. Khả năng hoán chuyển giữa các công cụ truyền thông đã lý giải tại sao các chức năng marketing cần được thiết lập lại trong một bộ phận marketing duy nhất.
15 Việc xác lập hỗn hợp xúc tiến ngày càng trở nên kinh tế hơn khi có một công cụ này có thể sử dụng đem lại thêm sức mạnh và hiệu quả cho một công cụ khác, thí dụ để phải tiến hành quảng cáo cho một chiến dịch xúc tiến bán. Sự phối hợp các hoạt động truyền thong luôn gắn với các chiến dịch truyền thông ở những khoảng thời gian cụ thể ấn định. Để sự phối hợp này đạt hiệu quả cao nhất, Công ty phải xây dựng hệ thống truyền thông của mình bằng việc chọn lựa công cụ truyền thông phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của doanh nghiệp. Trong Công ty, hỗn hợp phương tiện truyền thông được xác lập phải dựa vào mục tiêu của Công ty đặt ra cho chiến lược truyền thong và đối tượng cần truyền thông, vào khách hàng mục tiêu của mình, vào bản chất của các phương tiện truyền thông.
Xác định ngân sách cho hoạt động truyền thông Việc xác định ngân sách cho hoạt động truyền thông marketing là một quyết định vô cùng khó khăn, nó chi phối phần lớn đến sự thành công, hiệu quả của hoạt động truyền thông. Việc quyết định ngân sách cho nó được căn cứ vào mục tiêu và nguồn lực của Công ty và ngân sách dành cho hoạt động marketing được phân bổ cho từng P, từ đó sẽ ra quyết định về ngân sách cho các công cụ của xúc tiến hỗn hợp hay phương pháp từ trên xuống hoặc phương pháp từ dưới lên đều căn cứ vào kế hoạch sử dựng công cụ của xúc tiến khả thi khi duyệt trình. Các phương pháp xác định ngân sách mà các Công ty thường áp dụng là: - Phương pháp căn cứ khả năng: Nhiều Công ty xác định ngân sách khuyến mại tại những mức mà họ nghĩ là có đủ khả năng. Phương pháp này hoàn toàn bỏ qua vai trò của khuyến mại như một khoản đầu tư và nó ảnh hưởng tức thời của khuyến mại đến sản lượng tiêu thụ.
Hàng năm nó dẫn đến một ngân sách khuyến mại không xác định đã gây khó khăn cho việc thiết lập kế hoạch truyền thông marketing dài hạn. - Phương pháp tỉ lệ phần trăm doanh số: + Ưu điểm: Chi phí khuyến mại thay đồi tuỳ theo khả năng của Công ty, khích lệ ban lãnh đạo nghĩ đến mối liên hệ giữa chi phí khuyến mại, giá 16 bán, lợi nhuận trên một đơn vị sản phấm, khuyến khích cạnh tranh ổn định ở mức độ mà các Công ty cạnh tranh khi khuyến mại tỷ lệ phần trăm doanh số bán của mình xấp xỉ là ngang nhau. + Nhược điểm: Xác định ngân sách dựa trên ngân quỹ hiện có chứ không phải phụ thuộc những cơ hội của thị trường, sự phụ thuộc của ngân sách khuyến mại dựa trên mức biến động của các mức tiêu thụ hàng năm đã gây nhiều cản trở cho việc Công ty lập kế hoạch dài hạn, không tạo ra được một căn cứ hợp lý cho việc lựa chọn một tỷ lệ phần trăm cụ thể ngoại trừ cái mà đã làm được trong quá khứ, hay cái mà các đối thủ canh tranh đã làm, rõ ràng đã không khuyến khích việc xây dựng ngân sách khuyến mại dựa trên cơ sở xác định xem mỗi sản phẩm và địa bàn xứng đáng chi bao nhiêu. - Phương pháp cạnh tranh cân bằng: xác định mức ngân sách truyền thông của phương pháp này là yêu cầu bằng với mức của đối thủ cạnh tranh trong khu vực thị trường và trong chu kỳ kinh doanh.
Dù thế nào chi phí của các đối tác cạnh tranh cũng cho thấy mức độ chi tiêu hợp lý của ngành kinh doanh. Tuy nhiên để việc duy trì một mức chi phí ngang bằng với đối thủ cạnh tranh sẽ thực hiện được việc loại trừ được một cuộc chiến tranh truyền thông. Trên thực tế khó để biết được mức chi cụ thể ngân sách này ở các Công ty. Mặt khác mỗi Công ty đều có mục tiêu truyền thông rất khác nhau nên khó căn cứ vào các Công ty khác mà xác định ngân sách cho Công ty của mình được.
- Phương pháp căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ: Phương pháp đòi hỏi người làm marketing cần xây dựng ngân sách khuyến mại của Công ty mình dựa trên cơ sở xác định những nhiệm vụ cần phải hoàn thành để có thể đạt được những mục tiêu cụ thể của mình và xác định những nhiệm vụ cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu rồi ước tính chi phí đế thực hiện nhiệm vụ đó. Tổng các chi phí này chỉ là dự toán cho ngân sách khuyến mại. Phương pháp này còn đòi hỏi phải trình bày rõ những giả thuyết về mối quan hệ giữa tổng chi phí, mức tiếp xúc, tỷ lệ dùng thử và mức thường xuyên sử dụng. Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm và những hạn chế còn tồn tại của riêng mình.
Do vậy thực tế, các đơn vị thường áp dụng các phương 17 pháp toán học, kết hợp với các căn cứ mà công việc cần phải làm để bảo toàn tính linh hoạt và thích hợp. Dù theo phương pháp nào thì vẫn phải phù hợp với kế hoạch tài chính chung và đồng thời đảm bảo cho quá trình hoạt động xúc tiến hỗn hợp hoạt động đạt hiệu quả. Các quyết định liên quan tới từng công cụ xúc tiến hỗn hợp 1. Quảng cáo Quảng cáo bao gồm các hình thức giới thiệu cho sản phẩm một cách gián tiếp và đề cao ý tưởng hàng hoá, dịch vụ cụ thể được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo và đương nhiên họ phải thanh toán các chi phí.