Một số biện pháp hiệu quả nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất khẩu

Khám phá các biện pháp hiệu quả để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường quốc tế.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

2023

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU

1.1. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu

1.2. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU Ở CÔNG TY THƯƠNG MẠI HỮU NGHỊ II THỜI GIAN QUA

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH KINH DOANH XUẤT KHẨU Ở CÔNG TY THƯƠNG MẠI HỮU NGHỊ II

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Hoạt động kinh doanh Quốc tế đóng một vai trò quan trọng vào sự thành công của công cuộc Công nghiệp hoá_Hiện đại hoá đất nƣớc. Đặc biệt là lĩnh vực hoạt động xuất khẩu từ lâu đã chiếm một sự quan trọng hàng đầu trong sự tồn tại và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Báo cáo chính trị của Ban Chấp Hành Trung Ƣơng Đảng tại Đại hội lần thứ VIII nhấn mạnh: “giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phƣơng hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào các nguồn lực trong nƣớc là chính đi đôi tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hƣớng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nƣớc sản xuất có hiệu quả”. Vai trò này đã đƣợc Đảng ta nhận thức rất sớm và nhấn mạnh từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Đại hội đã khẳng định: “xuất khẩu là một trong ba chƣơng trình cốt lõi của nhiệm vụ kinh tế xã hội trong 5 năm 1986-1990, không những có ý nghĩa sống còn đối với tình hình trƣớc mắt mà còn là những điều kiện ban đầu không thể thiếu đƣợc để triển khai Công nghiệp hoá Xã hội Chủ nghĩa trong những chặng đƣờng tiếp theo”. Xuất khẩu là cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn, là phƣơng tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhà nƣớc ta luôn luôn coi trọng và hối thúc các nghành kinh tế hƣớng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và nâng cao mức sống. Nhận thức đƣợc sự phức tạp và tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu, cũng nhƣ trƣớc đòi hỏi thực tế của việc hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của công tác xuất khẩu, cùng với những kiến thức đƣợc trang bị tại nhà 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣờng và những tìm hiểu thực tế trong đợt thực tập cuối khoá tại Công ty Thƣơng Mại Hữu Nghị II, để đi sâu nghiên cứu vấn đề em mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất khẩu ở Công ty Thương Mại Hữu Nghị II” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Đề tài này nhằm mục đích trình bày những vấn đề cốt lõi của nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu, những lợi ích nó mang lại cho nền kinh tế quốc dân và thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty, qua đó rút ra những mặt mạnh cũng nhƣ những tồn tại chủ yếu trong lĩnh vực xuất khẩu, từ đó đƣa ra một số giải pháp nhằm giải quyết những tồn tại đó và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu của Công ty. Đây là một đề tài rộng và phức tạp, lại do những hạn chế về trình độ cũng nhƣ về thời gian nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Kính mong đƣợc sự góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn. Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chƣơng: Chƣơng I : Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Chƣơng II : Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu ở Công ty Thƣơng Mại Hữu Nghị II thời gian qua . Chƣơng III: Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu ở Công ty Thƣơng Mại Hữu Nghị II . Xin chân thành cảm ơn! 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU.KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU.Khái niệm về xuất khẩu. Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho nƣớc ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phƣơng tiện thanh toán. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá (bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nƣớc. Khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia phát triển, sự phân công lao động quốc tế hình thành rõ nét, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia ( hay thị trƣờng nội địa với các khu chế xuất trong nƣớc ). Cơ sở lý thuyết về hoạt động xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển . Do khác nhau về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực, các nguồn tài nguyên. dẫn đến sự khác biệt về lợi thế trong các lĩnh vực khác nhau của các quốc gia . Để khai thác tối đa lợi thế và khắc phục các hạn chế , tận dụng các cơ hội và hạn chế các thách thức tạo ra sự cân bằng các yếu tố trong quá trình sản xuất và tiêu dùng , các quốc gia phải tiến hành trao đổi các loại hành hoá và dịch vụ cho nhau. Tuy nhiên, xuất khẩu không phải chỉ diễn ra giữa các quốc gia có những lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác. Ngay cả khi các quốc gia không có lợi thế về điều kiện tự nhiên , nguồn nhân lực , tài nguyên thiên nhiên. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thì quốc gia đó vẫn có thể thu đƣợc lợi ích không nhỏ khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu. Cơ sở và lợi ích xuất khẩu đã đƣợc chứng minh qua lý thuyết lợi thế so sánh. Theo lý thuyết này, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong việc sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia hoạt động xuất khẩu để tạo ra lợi ích cho mình, nếu bỏ qua thì quốc gia đó sẽ mất cơ hội phát triển. Khi tiến hành hoạt động xuất khẩu, quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hoá vẫn có thể thu đƣợc lợi ích cho mình bằng việc chuyên môn hoá vào sản xuất loại hàng hoá, mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác, đồng thời nhập khẩu những loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng là bất lợi nhất. Mô hình so sánh của David Ricardo đƣợc xây dựng dựa trên 5 giả thiết đƣợc đơn giản hoá sau đây: 1. Thế giới chỉ có hai quốc gia và hai hàng hoá. Mỗi quốc gia có lợi thế trong việc sản xuất một mặt hàng. Lao động là yếu tố duy nhất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia, nhƣng không di chuyển giữa hai quốc gia. Công nghệ sản xuất của hai quốc gia là cố định. Chi phí sản xuất không đổi, không phát sinh các loại chi phí khác. Hoạt động thƣơng mại hoàn toàn tự do giữa hai quốc gia. Có thể minh hoạ mô hình về lợi thế so sánh của D.Ricardo áp dụng cho hai quốc gia là Việt Nam và Nhật Bản, và hai loại hàng hoá là Vải và Gạo trong bảng 1 sau đây: MINH HỌA MÔ HÌNH LỢI THẾ SO SÁNH. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc gia VIỆT NAM NHẬT BẢN Hàng hoá Vải (m/giờ gia công) 1 6 Gạo (kg/giờ công) 2 4 Mô hình trên cho thấy Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam trong việc sản xuất cả hai loại hàng hoá là vải và gạo. Nhƣng khi phân tích cụ thể chúng ta thấy rằng: Trong khi năng suất lao động trong ngành dệt của Nhật Bản gấp 6 lần năng suất lao động trong ngành dệt của Việt Nam thì năng suất lao động trong ngành sản xuất gạo của Nhật Bản chỉ cao gấp 2 lần. Nhƣ vậy, trong sản xuất giữa gạo và vải thì Nhật Bản có lợi thế tƣơng đối trong sản xuất vải còn Việt Nam có lợi thế trong sản xuất gạo ( mặc dù về lợi thế tuyệt đối thì Việt Nam không có lợi thế trong sản xuất mặt hàng nào). Theo quy luật lợi thế so sánh, thì cả hai quốc gia là Việt Nam và Nhật Bản đều có lợi thế nếu Việt Nam chuyên môn hoá trong sản xuất gạo còn Nhật Bản chuyên môn hoá trong sản xuất vải, sau đó tiến hành trao đổi cho nhau . Nếu tiến hành trao đổi 6m vải lấy 4 kg gạo của Việt Nam thì Nhật Bản sẽ chẳng có lợi gì cả bởi vì khi mà ngay trong nƣớc họ cũng đã trao đổi theo tỉ lệ này do đó họ sẽ không trao đổi. Tƣơng tự nhƣ vậy, nếu trao đổi 1m vải lấy 2 kg gạo thì Việt Nam cũng từ chối trao đổi này, bởi vì Việt Nam sẽ không đƣợc lợi gì khi mà ngay trong nƣớc tỷ lệ trao đổi này đang đƣợc diễn ra. Do đó, tỷ lệ trao đổi quốc tế nằm ở khoảng giữa tức là: 1 6 < Tỉ lệ trao đổi quốc tế vải/gạo < 2 4 Bây giờ giả sử trao đổi 1m vải lấy 1 kg gạo. Trong trƣờng hợp này nếu Nhật Bản trao đổi 6m vải lấy 6 kg gạo thì Nhật Bản sẽ đƣợc lợi 2kg gạo 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 hay tiết kiệm đƣợc giờ công. Còn Việt Nam nhận đƣợc 6m vải mà bình 2 thƣờng Việt Nam phải mất 6 giờ công mới sản xuất đƣợc. Nếu 6 giờ công ấy Việt Nam dành để sản xuất gạo sẽ thu đƣợc 12 kg gạo và chỉ phải dùng 6kg gạo để đổi lấy 6m vải và nhƣ vậy Việt Nam đã lợi 6 kg gạo hay tiết kiệm đƣợc 3 giờ công. Qua phân tích ví dụ trên cho thấy, hoạt động xuất khẩu mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia bằng cách xuất khẩu những hàng hoá có lợi thế so sánh và nhập khẩu những hàng hoá không có lợi thế tƣơng đối. Sự chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi hàng hoá khai thác tốt lợi thế của mỗi quốc gia.Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân. Xuất khẩu hàng hoá là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối và lƣu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nƣớc này với nƣớc khác. Hoạt động đó không chỉ diễn ra giữa các cá thể riêng biệt mà là có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự điều hành của Nhà nƣớc. Chính vì vậy, nó có vai trò to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội một nƣớc phát triển nhƣ thế nào phụ thuộc rất lớn vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ