Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế, thất thu thuế và công tác thanh tra, kiểm tra thuế của chi cục thuế nhằm chống thất thu thuế. Chương 2: Phân tích thực trạng về công tác chống thất thu thuế tại chi cục thuế huyện An Dương, Hải Phòng giai đoạn 2011-2015. Chương 3: Một số biện pháp nhằm chống thất thu thuế tại chi cục thuế huyện An Dương, Hải Phòng giai đoạn 2016-2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ, THẤT THU THUẾ VÀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ CỦA CHI CỤC THUẾ NHẰM CHỐNG THẤT THU THUẾ 1.
Một số lý luận cơ bản về thuế 1. Khái niệm Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với NN, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do NN ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù NN và pháp luật. Thuế hay thu NSNN là việc NN dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước.
Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và tài sản huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội. Đóng thuế vừa là quyền lợi được thực thi trách nhiệm công dân đóng góp cho sự phát triển phồn vinh của đất nước, vừa là nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi công dân. Như vậy, một định nghĩa hoàn chỉnh về thuế cần hàm chứa các nội dung sau: Thứ nhất, làm rõ nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với đối tượng nộp thuế (ĐTNT). Điều đó có nghĩa Nhà nước dùng quyền lực của mình để đặt ra các loại thuế và sử dụng thuế là công cụ 5 chủ yếu để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và do cơ quan lập pháp quy định Thứ hai, mối quan hệ trên nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt.
Việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước và phải được qui định bằng pháp luật, không có sự bồi hoàn trực tiếp. Thứ ba, thuế là hình thức phân phối lại một phần của cải xã hội. Từ các yếu tố trên đây, có thể hiểu thuế là một hình thức đóng góp cho Nhà nước theo nghĩa vụ do luật định đối với các thể nhân và pháp nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; là hình thức phân phối lại một phần của cải xã hội. Nó không mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế; được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho NSNN, điều chỉnh kinh tế và điều hòa thu nhập.
Bản chất Thuế ra đời gắn liền với Nhà nước, do đó Thuế ở chế độ xã hội nào thì mang bản chất của Nhà nước đó. Tuy nhiên, thuế có những thuộc tính bên trong, vốn có làm cho nó có tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và tạo nên những đặc trưng riêng để phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác. Đặc điểm đó là: Thứ nhất, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc, phi hình sự. Đặc điểm này đã thể hiện rõ nguồn hình thành nên các khoản thuế là thu nhập do hoạt động kinh tế của các thể nhân và pháp nhân tạo ra.
ở bất cứ một quốc gia nào, hệ thống thuế cũng bao gồm nhiều loại thuế nhằm điều chỉnh đối với nhiều đối tượng khác nhau. Có loại thuế điều chỉnh thu nhập, có loại thuế điều chỉnh tiêu dùng, có loại thuế điều chỉnh tài sản., nhưng suy cho cùng thì chúng đều điều chỉnh đối với thu nhập của các tầng lớp trong xã hội. Các khoản thu nhập đó biến đổi trong quá trình kinh tế, hình thành các loại thu nhập khác nhau. Thông thường, cứ ứng với mỗi loại thu nhập có một loại thuế điều chỉnh để nhằm vào những mục tiêu điều tiết 6 khác nhau của Nhà nước, với mức độ và phương thức huy động khác nhau.
Đây là một nhận thức mới về thuế mà các nhà quản lý thuế cần quán triệt khi xây dựng chính sách thuế cũng như chỉ đạo thực thi chính sách. Đồng thời lý luận này cũng lý giải vì sao người nộp thuế luôn luôn cho rằng họ phải chịu nhiều thứ thuế và thuế đánh trùng lên thuế. Qua đặc điểm này của thuế cho phép ta phân biệt được sự khác nhau giữa thuế với các hình thức động viên khác của tài chính Nhà nước. Tính bắt buộc của thuế thể hiện phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế phải chuyển giao cho Nhà nước không kèm theo một sự cấp phát hay những quyền lợi trực tiếp nào cho người nộp thuế hưởng thụ.
Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế khác với các khoản tiền phạt bắt buộc. Tính bắt buộc của thuế thể hiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Ngược lại, tính bắt buộc của các khoản tiền phạt thể hiện yêu cầu của cơ quan pháp quyền đối với người vi phạm pháp luật. Thứ hai, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện trên hai khía cạnh sau: - Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới thực hiện việc chuyển giao thu nhập cho Nhà nước. Mặt khác, mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao thu nhập. Mức thu nhập chuyển giao nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh - xã hội cũng như nhu cầu tài chính chung của Nhà nước.
- Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không được hoàn trả trực tiếp, có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một phần các 7 dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước. Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được qui định trước bằng pháp luật. Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý cao của thuế. Việc chuyển giao thu nhập không mang tính chất tuỳ tiện mà dựa trên cơ sở khoa học và đã được xác định trong các luật thuế.
Nhà nước mà đại diện là cơ quan quản lý thu thuế không thể lạm dụng quyền hành một cách tùy tiện trong hoạt động thu thuế. Việc thu thuế của Nhà nước phải được các tầng lớp dân cư thừa nhận thông qua người đại diện cao nhất của mình là Quốc hội. Quốc hội xác lập quyền thu thuế của Chính phủ bằng hệ thống pháp luật về thuế. Những nội dung thường được xác định trước trong Luật thuế là: Đối tượng đánh thuế, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế và các chế tài nhằm bảo đảm thực thi pháp luật một cách nghiêm minh.
Thứ tư, Thuế là khoản thu nhập của Nhà nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Thuế là hình thức động viên thu nhập từ các hoạt động kinh tế của các thể nhân và pháp nhân. Do đó thuế chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố về kinh tế, đó là: mức độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, giá cả thị trường, sự biến động của NSNN. Tuy nhiên, thuế cũng có tính độc lập riêng có.
Nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tác động trở lại nền kinh tế, ưu tiên, khuyến khích hay kìm hãm sự phát triển một số ngành nghề, lĩnh vực kinh tế theo yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước. Thuế có quan hệ chặt chẽ với lợi ích của các tầng lớp dân cư. Mà vấn đề lợi ích vật chất là vấn đề nhạy cảm, gắn chặt với vấn đề chính trị, xã hội. Do đó, thuế chịu sự chi phối bởi yếu tố chính trị, xã hội.
Các yếu tố đó là: thể chế chính 8 trị của Nhà nước, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc. Do thuế chịu sự ràng buộc của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội như trên, nên người ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội tổng hợp. Các nguyên tắc xây dựng hệ thống thuế Các sắc thuế đều cần thỏa mãn ba nguyên tắc chung sau đây: - Trung lập: sắc thuế không được bóp méo các hoạt động sản xuất, dẫn tới phúc lợi xã hội (tổng hiệu dụng) của nền kinh tế bị giảm đi. - Đơn giản: việc thiết kế sắc thuế và tiến hành trưng thu thuế phải không phức tạp và không tốn kém.
- Công bằng: sắc thuế phải đánh cùng một tỷ lệ vào các công dân có điều kiện như nhau. Giữa các công dân có điều kiện khác nhau, thì thuế suất cũng cần khác nhau (vì thông thường người có điều kiện tốt hơn có xu hướng tiêu dùng hàng hóa công cộng nhiều hơn). Hệ thống thuế là tổng hợp các yếu tố, bộ phận phục vụ cho công tác thuế của một đất nước, nhằm thực hiện chiến lược thuế của quốc gia đó trong từng thời kỳ cụ thể. Các bộ phận phục vụ này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau theo một cơ chế và được bố trí, sắp xếp theo một mô hình nhất định nhằm đảm bảo tính thống nhất, đáp ứng khả năng thực hiện các chức năng và nhiệm vụ quản lý thu thuế.
Các bộ phận chính của một hệ thống thuế bao gồm: Thứ nhất, hệ thống chính sách thuế.