Tổng quan về luận án
Bối cảnh khoa học của công trình nghiên cứu tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (Mã số: 9229002) bắt nguồn từ sự vận động phức tạp của đời sống tinh thần xã hội Việt Nam trong tiến trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế từ năm 1986 đến nay. Dưới tác động sâu sắc của quy luật quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong triết học Mác - Lênin, phương thức sản xuất và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thúc đẩy những biến đổi căn bản trong cấu trúc tâm lý xã hội và hệ tư tưởng của người Việt Nam. Tính tiên phong của luận án thể hiện ở việc lần đầu tiên tiếp cận và giải mã sự biến đổi của nhân sinh quan người Việt một cách độc lập, hệ thống thông qua không gian thực hành lễ hội truyền thống – nơi kết tinh sinh động nhất các giá trị văn hóa, tín ngưỡng và đạo đức dân tộc.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) được xác định cụ thể: trong khi các công trình trước đây của Vũ Ngọc Khánh (2007), Ngô Đức Thịnh (2007, 2014, 2018), Lê Trung Vũ và Lê Hồng Lý (2015) chủ yếu tiếp cận lễ hội dưới lăng kính văn hóa học, nhân học hoặc dân tộc học thuần túy; hay các nghiên cứu của Nguyễn Thế Phúc và Ngô Văn Trân (2016), Đặng Quang Định (2017) chỉ phân tích từng lát cắt địa phương riêng lẻ, thì chưa có công trình nào xây dựng khung lý thuyết triết học toàn diện để giải phẫu sự biến đổi nhân sinh quan của người Việt Nam qua lễ hội truyền thống trên phạm vi toàn quốc dưới giác độ duy vật lịch sử.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của đề tài được xác lập:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản chất, cấu trúc và chức năng của nhân sinh quan người Việt Nam biểu hiện qua không gian lễ hội truyền thống là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Những nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa nào đang chi phối sự phân hóa hai chiều (tích cực và tiêu cực) trong nhân sinh quan của người tham gia lễ hội từ năm 1986 đến nay?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Hệ thống quan điểm và giải pháp đột phá nào có khả năng định hướng, phát huy nhân sinh quan tiến bộ và ngăn chặn sự tha hóa, thương mại hóa giá trị tâm linh hiện nay?
- Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Nhân sinh quan của người Việt Nam qua lễ hội truyền thống không mang tính bất biến mà biến đổi có tính quy luật tương ứng với sự chuyển dịch của tồn tại xã hội và điều kiện kinh tế thị trường.
- Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Sự xâm nhập của lối sống thực dụng và thương mại hóa làm phát sinh mâu thuẫn nội tại giữa nhu cầu giao cảm tâm linh thiêng liêng và hành vi trục lợi vị kỷ, đòi hỏi sự can thiệp đồng bộ từ thể chế quản lý văn hóa đến giáo dục ý thức hệ.
Khung lý thuyết nền tảng (Theoretical Framework) dựa trên phản ánh luận duy vật mác xít, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người, cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Văn kiện Đại hội XIII: "Đạo đức, lối sống trong gia đình, học đường, xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, gây bức xúc cho xã hội" và "Có hiện tượng thương mại hoá các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở một số nơi". Phạm vi nghiên cứu (Scope) tập trung vào giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2024, khảo sát nhóm dân cư nòng cốt từ 30 đến 75 tuổi tại 8 lễ hội truyền thống biểu trưng quy mô lớn đại diện cho ba miền Bắc - Trung - Nam: Lễ hội Đền Hùng, Lễ hội Đền Gióng, Lễ hội Đền Trần, Lễ hội Phủ Dầy, Lễ hội Đền Bà Chúa Kho, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam, Lễ hội Trò Trám và Lễ hội Cầu Ngư. Tác động của luận án là cung cấp hệ thống luận cứ khoa học chuẩn xác nhằm chuẩn hóa chính sách văn hóa quốc gia đối với 10.354 lễ hội truyền thống trên khắp cả nước.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tình hình nghiên cứu ghi nhận ba dòng chảy học thuật (academic streams) chính yếu:
- Dòng lý luận về nhân sinh quan và triết lý sống: Phân tích nguồn gốc và giá trị nhân sinh từ kinh Vê-đa, Upanishad, thuyết nhân duyên Phật giáo ("tất cả là tập hợp của nhân và duyên, tồn tại, phát triển và hoại diệt"), các công trình đạo đức học của Nguyễn Kim Dân (2007), Lê Kiến Cầu (2008), Vương Mông (2009), Nguyễn Tất Thịnh (2011), và Hoàng Thúc Lân (2017) về triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao.
- Dòng khảo cứu văn hóa, tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền: Các công trình nền tảng của Vũ Ngọc Khánh (2007) về biến đổi văn hóa làng xã; Ngô Đức Thịnh (2007, 2018) về Đạo Mẫu và nghi lễ Shaman (lên đồng); Lê Trung Vũ và Lê Hồng Lý (2015) khảo cứu hơn 300 lễ hội Việt Nam; Trung Thị Thu Thủy (2010) và Nguyễn Ngọc Hòa (2014) về lễ hội vòng đời và giá trị xã hội truyền thống của đồng bào thiểu số Tây Nguyên; Phạm Cao Quý (2016), Trần Hữu Sơn và Trần Thùy Dương (2021) về xu hướng biến đổi không gian, thời gian, chủ thể lễ hội.
- Dòng nghiên cứu quản lý nhà nước và định hướng giá trị: Đóng góp của Trần Đăng Sinh (2002) về triết học trong thờ cúng tổ tiên; Phạm Thị Thanh Quy (2009) về quản lý hơn 700 lễ hội tại Hà Nội; Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (2012) với 74 công trình hội thảo quốc tế về bảo tồn lễ hội truyền thống đương đại (trường hợp Hội Gióng).
Những mâu thuẫn và tranh luận học thuật (debates) diễn ra gay gắt giữa hai quan điểm đối lập:
- Trường phái bảo tồn nguyên trạng (Cultural Preservationism): Cho rằng mọi sự thay đổi trong nghi thức, lời khấn, cấu trúc lễ vật và hình thức diễn xướng đều là sự suy thoái, phá vỡ "tính thiêng" (the sacred) nguyên bản của di sản văn hóa dân gian.
- Trường phái thích ứng tiến hóa (Adaptive Functionalism): Lập luận rằng lễ hội là một thực thể văn hóa động (dynamic cultural phenomenon). Khi phương thức sản xuất thay đổi, việc rút ngắn thời gian tổ chức, mở rộng quy mô liên vùng hay tích hợp dịch vụ du lịch tâm linh là tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cộng đồng đương đại.
Luận án định vị chính xác vị trí khoa học bằng việc dung hòa hai luồng quan điểm trên qua lăng kính duy vật biện chứng: khẳng định sự biến đổi của nhân sinh quan là tất yếu khách quan, nhưng cần phân định rạch ròi giữa biến đổi tích cực (bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần cố kết cộng đồng, hướng thượng Chân - Thiện - Mỹ) và biến đổi tiêu cực (thực dụng hóa, mê tín dị đoan, cuồng vọng cá nhân).
So sánh với các nghiên cứu quốc tế:
- So với công trình so sánh lễ hội Đông Nam Á của Trần Bình Minh (2000) về hằng số nông nghiệp lúa nước, tín ngưỡng phồn thực và tục thờ mặt trời tại các quốc gia như Thái Lan, Indonesia; luận án đi sâu hơn vào việc giải mã xung đột nhân sinh quan trong quá trình chuyển dịch từ nền nông nghiệp cổ truyền sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
- So với triết lý nhân sinh hạnh phúc của Matsushita Kōnosuke (Nhật Bản) – nhấn mạnh sự hòa hợp giữa tự cảm nhận hạnh phúc cá nhân, sự tán đồng xã hội và quy luật tự nhiên; luận án chứng minh rằng người Việt hiện nay đang tái cấu trúc quan niệm hạnh phúc từ chỗ phụ thuộc vào ân huệ siêu nhiên sang việc kết hợp giữa khát vọng làm giàu chính đáng và trách nhiệm đạo lý cộng đồng.
- So với các mô hình quản lý và bảo tồn di sản lễ hội tại Lào, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Ý (Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, 2012), luận án cung cấp mô hình đặc thù của Việt Nam: chuyển đổi vai trò từ quản lý hành chính bao cấp sang phân cấp cộng đồng tự quản dưới sự điều tiết vĩ mô của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp trực tiếp vào việc mở rộng và phát triển nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Luận án làm sáng tỏ rằng nhân sinh quan không thuần túy là sự phản ánh thụ động các điều kiện sinh hoạt vật chất, mà là một cấu trúc động lực có tính độc lập tương đối, tác động trở lại mạnh mẽ đối với hành vi kinh tế - xã hội.
Trích dẫn quan điểm của Karl Marx về bản chất xã hội của con người và giá trị sống: "Nếu con người chỉ lao động cho bản thân mình thì người đó có thể trở thành một nhà khoa học nổi tiếng, một triết gia vĩ đại, một nhà thơ tuyệt vời, nhưng không bao giờ người đó có thể trở thành một người thật sự hoàn thiện và vĩ đại... hạnh phúc của chúng ta sẽ thuộc về hàng triệu người" (C. Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập, T. 40, tr. 11). Luận án vận dụng luận điểm này để xây dựng mô hình nhân sinh quan mác xít cách mạng đối sánh với lối sống vị kỷ, thực dụng.
Mô hình lý thuyết nhân sinh quan người Việt qua lễ hội truyền thống gồm 3 thành tố cốt lõi:
- Mệnh đề 1 (P1 - Quan niệm về cuộc sống): Nhận thức về ý nghĩa, mục đích cuộc đời, lẽ sống và đạo làm người; sự kết hợp giữa tinh thần trách nhiệm cá nhân và nghĩa vụ cộng đồng.
- Mệnh đề 2 (P2 - Quan niệm về sự trân trọng và lòng biết ơn): Thái độ tôn thờ đấng sinh thành, ngưỡng vọng công đức các anh hùng dân tộc dựng nước và giữ nước, các bậc tiền nhân, thần linh, thành hoàng làng và tổ nghề qua đạo lý "Uống nước nhớ nguồn".
- Mệnh đề 3 (P3 - Ước mong và khát vọng tương lai): Niềm tin, ước vọng về cuộc sống ấm no, thanh bình, thịnh vượng và hạnh phúc Chân - Thiện - Mỹ.
Sự chuyển dịch giác độ nhận thức (paradigm shift) mà luận án chứng minh là: Nhân sinh quan của người Việt qua lễ hội đã chuyển đổi từ trạng thái "cầu xin ân huệ siêu nhiên một cách thụ động" (tâm lý nông nghiệp tiểu nông lệ thuộc tự nhiên) sang trạng thái "xác lập động lực nội tại để kiến tạo hiện thực" (nhận thức duy vật biện chứng chủ động làm chủ hoàn cảnh), song hành với sự trỗi dậy của nguy cơ "thương mại hóa đức tin".
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp chặt chẽ 3 hệ thống lý thuyết chuyên sâu:
- Lý luận hình thái kinh tế - xã hội và phản ánh luận của Triết học Mác - Lênin: Giải thích căn nguyên kinh tế - vật chất dẫn đến sự phân hóa ý thức xã hội.
- Lý thuyết Xã hội học văn hóa và Tôn giáo học về "Tính thiêng và Tính trần tục": Phân tích cơ chế giải thiêng (desacralization) và trần tục hóa các biểu tượng tôn giáo, thần tích.
- Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng trong Nhân học văn hóa: Đánh giá vai trò của lễ hội trong việc duy trì trật tự xã hội, cố kết cộng đồng và tái sản xuất các chuẩn mực giá trị đạo đức.
Cách tiếp cận phân tích đa diện (multidimensional analytical approach) này cho phép giải mã các hiện tượng xã hội phức tạp mà các phương pháp đơn ngành không thể bao quát. Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập: Khung lý thuyết này áp dụng hiệu quả nhất đối với các thực hành văn hóa dân gian truyền thống của cư dân nông nghiệp lúa nước đang trong quá trình đô thị hóa nhanh và chuyển đổi sang kinh tế thị trường; không áp dụng đồng nhất cho các lễ hội sự kiện hiện đại, lễ hội du nhập ngoại lai hoặc các festival thương mại thuần túy.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Triết lý nghiên cứu (Research philosophy) của luận án kiên định lập trường Hiện thực phê phán (Critical Realism) dựa trên phương pháp luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử. Lập trường này khẳng định các hiện tượng tinh thần và ý thức xã hội đều có nền tảng tồn tại khách quan từ các điều kiện kinh tế - xã hội, song ý thức xã hội có quy luật vận động nội tại và có khả năng tạo ra những tác động thực tế đến cấu trúc xã hội.
Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level research design) kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng:
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Phân tích thể chế, chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước (Nghị định 110/2018/NĐ-CP, Quy chế 39/2001/QĐ-BVHTT).
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Phân tích thiết chế làng xã, không gian tổ chức và ban quản lý tại 8 lễ hội truyền thống trọng điểm đại diện 3 miền Bắc - Trung - Nam.
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Phân tích hành vi, tâm lý, nhận thức và thái độ ứng xử của các chủ thể tham gia lễ hội thuộc nhóm tuổi 30 - 75 tuổi.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược chọn mẫu (Sampling strategy) áp dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng địa lý và loại hình lễ hội:
- Tiêu chí lựa chọn: Lễ hội có bề dày lịch sử hàng trăm năm, mang tính biểu trưng quốc gia hoặc liên vùng, có quy mô thu hút hàng vạn đến hàng triệu lượt du khách mỗi năm, đại diện cho các sắc thái: lễ hội tưởng niệm anh hùng dân tộc (Đền Hùng, Đền Gióng, Đền Trần), lễ hội tín ngưỡng Mẫu (Phủ Dầy, Núi Sam), lễ hội cầu tài lộc (Bà Chúa Kho), lễ hội phồn thực nông nghiệp (Trò Trám) và lễ hội ngư nghiệp duyên hải (Cầu Ngư).
- Tiêu chí đối tượng: Người tham gia lễ hội trong độ tuổi 30 - 75 tuổi. Nhóm tuổi này có vốn sống tích lũy, kinh nghiệm xã hội phong phú, nhân sinh quan và lối sống đã định hình vững chắc. Loại trừ nhóm dưới 30 tuổi (học sinh, sinh viên có nhận thức chưa ổn định) và nhóm trên 75 tuổi (hạn chế về tần suất trực tiếp tham gia hoạt động thực địa).
Giao thức thu thập dữ liệu (Data collection protocols) áp dụng nguyên tắc tam giác đạc (Triangulation):
- Tam giác đạc phương pháp: Kết hợp phương pháp văn bản học (nghiên cứu thần phả, văn tế, hoành phi, sắc phong), phương pháp quan sát tham dự (fieldwork observation), phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử - lôgic và phương pháp so sánh liên ngành.
- Độ tin cậy và giá trị khoa học: Kiểm chứng chéo thông tin giữa các tài liệu thư tịch cổ, số liệu thống kê chính thống từ cơ quan quản lý nhà nước và dữ liệu khảo sát thực địa nhằm bảo đảm tính chân thực khách quan tuyệt đối.
Data và phân tích
Dữ liệu của luận án được khai thác từ hệ thống thống kê chính thức của Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Tổng cục Thống kê và kết quả khảo sát thực tế:
- Tổng số lễ hội trên toàn quốc: 11.124 lễ hội.
- Cơ cấu phân loại: 10.354 lễ hội truyền thống (chiếm tỷ trọng áp đảo 93,07%), 687 lễ hội văn hóa (6,2%), 79 lễ hội làng nghề (0,7%), 4 lễ hội du nhập từ nước ngoài (0,03%).
- Dữ liệu khách hành hương: Thống kê số lượt khách về dự lễ Giỗ Tổ Hùng Vương giai đoạn 2016-2024 đạt hàng triệu lượt người mỗi dịp chính hội; lượng khách quốc tế đến Việt Nam phục hồi mạnh mẽ đạt 12,6 triệu lượt (năm 2023).
- Dữ liệu kinh tế - xã hội: Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm liên tục (Bảng 3.3), thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng đều qua các năm 2019-2023 (Bảng 3.4), song hệ số chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất gia tăng qua 11 kỳ khảo sát mức sống từ năm 2002 đến năm 2022 (Bảng 3.5), tạo nên áp lực tâm lý xã hội đối với hành vi cầu tài lộc, phát triển kinh tế gia đình.
Công cụ phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê chuyên ngành để xử lý các bảng dữ liệu so sánh, phân tích chỉ số tương quan giữa sự phân hóa thu nhập và xu hướng tham gia các lễ hội cầu tài lộc (như Đền Bà Chúa Kho, Phủ Dầy).
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Sự củng cố mạnh mẽ của nhân sinh quan hướng về cội nguồn và chủ nghĩa yêu nước: Các lễ hội lịch sử (Đền Hùng, Đền Gióng, Đền Trần) tiếp tục đóng vai trò là "mỏ neo tinh thần", hun đúc lòng tự hào dân tộc, ý thức tự lực tự cường và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. 100% các lễ hội khảo sát đều duy trì nghi thức tế lễ tri ân tiền nhân, khẳng định đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" là giá trị bất biến trong tâm thức người Việt.
- Xu hướng chuyển dịch từ "tín ngưỡng tâm linh thuần túy" sang "thực dụng hóa mục đích sống": Xuất hiện một bộ phận đáng kể người tham gia lễ hội mang tâm lý "mua thần bán thánh", coi lễ hội là không gian giao dịch thương mại siêu nhiên. Biểu hiện điển hình tại Đền Bà Chúa Kho: từ quan niệm ban đầu tôn vinh vị nữ thần giữ kho lương và dạy dân cấy lúa, nhận thức của người dân đã bị biến dạng thành "vay vốn - trả nợ tâm linh", đầu năm đến vay tiền vàng xin lộc làm ăn, cuối năm mang lễ vật đến trả nợ cả vốn lẫn lãi.
- Hiện tượng tha hóa hành vi do áp lực tâm lý làm giàu nhanh: Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo (Bảng 3.5) và cạnh tranh kinh tế thị trường đã kích thích tâm lý nóng vội, cầu may, phát sinh các hành vi phản cảm, thiếu văn hóa như: tục "cướp" lộc thánh, "cướp" hoa tre tại Hội Gióng, cướp phết, chen lấn xô đẩy, rải tiền lẻ tùy tiện, đốt vàng mã tràn lan và tình trạng hòm công đức xuất hiện dày đặc.
- Xung đột sâu sắc giữa chủ thể sáng tạo truyền thống và chủ thể quản lý hiện đại: Tác giả chỉ rõ sự biến đổi căn bản khi vai trò tổ chức lễ hội bị chuyển giao từ cộng đồng làng xã (chủ thể nguyên hợp) sang chính quyền hành chính hoặc các công ty sự kiện thương mại, dẫn đến tình trạng sân khấu hóa gượng ép, đánh mất không gian thiêng và tính tự nguyện của nhân dân.
Implications đa chiều
- Đóng góp cho lý thuyết triết học: Bổ sung luận cứ thực tiễn làm sâu sắc thêm học thuyết duy vật lịch sử về sự phát triển không đồng đều giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội; chứng minh rằng tâm lý tiểu nông và tàn dư tôn giáo cổ truyền có thể biến tướng tinh vi khi kết hợp với mặt trái của kinh tế thị trường tự do.
- Đổi mới phương pháp luận: Thiết lập quy trình tiếp cận liên ngành giữa Triết học Mác - Lênin, Xã hội học tôn giáo và Nhân học văn hóa trong việc đánh giá các hiện tượng ý thức hệ và đời sống tinh thần xã hội đương đại.
- Ứng dụng thực tiễn trong quản lý văn hóa: Cung cấp cơ sở khoa học để các nhà quản lý di tích phân định rõ ranh giới giữa tự do tín ngưỡng lành mạnh và các hành vi trục lợi tâm linh, từ đó thiết kế các quy chuẩn ứng xử văn minh nơi thờ tự.
- Khuyến nghị chính sách (Policy recommendations):
- Nhóm giải pháp 1: Hoàn thiện hành lang pháp lý, sửa đổi Nghị định 110/2018/NĐ-CP theo hướng xử phạt nghiêm minh các hành vi thương mại hóa, mê tín dị đoan và đổi tiền lẻ trục lợi tại không gian di tích.
- Nhóm giải pháp 2: Trả quyền chủ thể tổ chức lễ hội về cho cộng đồng dân cư địa phương; cơ quan quản lý nhà nước chỉ đóng vai trò hướng dẫn, kiểm tra và định hướng an ninh trật tự.
- Nhóm giải pháp 3: Tăng cường công khai, minh bạch tài chính đối với nguồn tiền công đức, tài trợ lễ hội; chấm dứt tình trạng đặt hòm công đức tràn lan làm mất mỹ quan không gian tôn nghiêm.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn nhìn nhận các giới hạn nghiên cứu (limitations) khoa học:
- Giới hạn về mẫu khảo sát độ tuổi: Tập trung nghiên cứu nhóm 30 - 75 tuổi, chưa khảo sát sâu nhóm thế hệ trẻ (Gen Z, dưới 30 tuổi) – đối tượng đang tiếp cận lễ hội thông qua không gian số và mạng xã hội với những quan niệm nhân sinh hoàn toàn mới.
- Giới hạn về không gian địa lý: Mặc dù đã chọn 8 lễ hội tiêu biểu đại diện 3 miền, song chưa thể bao quát hết tính đặc thù phong phú của hàng nghìn lễ hội truyền thống thuộc các vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
- Giới hạn về kỹ thuật dữ liệu: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên phân tích lý luận, phương pháp định tính và dữ liệu thống kê thứ cấp; chưa triển khai mô hình định lượng phương trình cấu trúc (SEM) để lượng hóa chính xác mức độ tác động của từng nhân tố kinh tế đến sự tha hóa nhân sinh quan.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future research agenda):
- Mở rộng nghiên cứu sự biến đổi nhân sinh quan của giới trẻ Việt Nam qua hình thức "Lễ hội ảo" (Virtual Festival) và du lịch tâm linh số (Metaverse/Digital Heritage).
- Nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa (Cross-cultural studies) về sự biến đổi nhân sinh quan qua lễ hội truyền thống giữa các quốc gia Đông Á có cùng nền tảng văn hóa Nho - Phật - Đạo (Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản).
- Ứng dụng mô hình kinh tế lượng và xã hội học định lượng để đo lường định lượng giá trị kinh tế và tác động xã hội (Social Return on Investment - SROI) của các lễ hội truyền thống.
- Xây dựng khung chuẩn mực đạo đức nhân sinh mới cho con người Việt Nam trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo và kinh tế tri thức.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo ra những tác động học thuật và thực tiễn sâu rộng:
- Tác động học thuật: Dự kiến công trình sẽ là nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực, đóng góp hàng chục trích dẫn cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Triết học, Văn hóa học, Xã hội học và Tôn giáo học; mở ra hướng nghiên cứu mới về triết học thực hành văn hóa dân gian.
- Tác động chuyển đổi ngành du lịch và công nghiệp văn hóa: Cung cấp luận cứ giúp ngành du lịch văn hóa chuyển đổi từ mô hình khai thác thương mại thuần túy sang mô hình phát triển du lịch di sản bền vững, bảo tồn nguyên vẹn giá trị nhân văn và tính thiêng của lễ hội.
- Tác động đến hoạch định chính sách quốc gia: Đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 của Chính phủ; cung cấp giải pháp cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc chuẩn hóa quản lý 11.124 lễ hội trên toàn quốc.
- Lợi ích xã hội: Góp phần thanh lọc môi trường văn hóa lễ hội, bảo vệ người dân trước các hình thức lừa đảo tâm linh, giữ gìn thuần phong mỹ tục, củng cố đạo lý truyền thống và bồi đắp nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên sau đại học (Doctoral researchers): Tiếp cận khung lý thuyết liên ngành hoàn chỉnh, xác định chính xác các khoảng trống học thuật về triết học văn hóa để phát triển đề tài luận văn, luận án.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu cao cấp (Senior academics): Khai thác hệ thống tư liệu phong phú, luận điểm khoa học sắc bén phục vụ công tác giảng dạy chuyên đề Triết học Mác - Lênin, Lịch sử tư tưởng Việt Nam và Văn hóa học.
- Doanh nghiệp du lịch và R&D văn hóa: Nắm bắt chính xác nhu cầu tâm linh đích thực của người dân để thiết kế các sản phẩm du lịch di sản nhân văn, tôn trọng bản sắc địa phương, chấm dứt các dịch vụ khai thác phản cảm.
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Vận dụng hệ thống giải pháp của luận án để ban hành các quy chế quản lý lễ hội thực chất, hiệu quả, hài hòa giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế địa phương.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng phạm trù phản ánh luận duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lênin bằng việc chỉ ra rằng: Lễ hội truyền thống chính là "tấm gương phản chiếu" nhạy bén nhất sự chuyển dịch của nhân sinh quan xã hội từ nền văn minh nông nghiệp tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án đã hệ thống hóa và định danh chính xác 3 trụ cột cấu thành nhân sinh quan người Việt qua lễ hội (Quan niệm cuộc sống - Lòng biết ơn - Ước vọng tương lai) gắn liền với hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ.
-
Tính đột phá trong phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
So với các nghiên cứu văn hóa học thuần túy mô tả của Vũ Ngọc Khánh (2007) hay Ngô Đức Thịnh (2007), luận án tạo đột phá bằng việc sử dụng phương pháp biện chứng duy vật lịch sử làm trục xuyên suốt, kết hợp với phân tích dữ liệu thống kê đa tầng (từ 11.124 lễ hội toàn quốc đến 8 ca điển hình 3 miền) và đối sánh với các chỉ số kinh tế vĩ mô (thu nhập, nghèo đa chiều, bất bình đẳng giàu nghèo giai đoạn 2002-2023), giúp lý giải căn nguyên sâu xa của hành vi xã hội từ gốc rễ kinh tế.
-
Phát hiện gây ngạc nhiên nhất (most surprising finding) là gì?
Đó là sự phân hóa mâu thuẫn gay gắt trong cùng một chủ thể thực hành lễ hội: một mặt, người dân ngày càng ý thức cao về lòng tự hào dân tộc và tri ân tổ tiên; nhưng mặt khác, trước áp lực cạnh tranh sinh kế khốc liệt, hành vi "thương mại hóa đức tin" và tâm lý cầu tài lộc vị kỷ, trục lợi (như hiện tượng vay - trả nợ tâm linh tại Đền Bà Chúa Kho hay tranh giành lộc cướp) lại gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ mở cửa của kinh tế thị trường, làm xói mòn nghiêm trọng tính thiêng vốn có.
-
Giao thức nhân bản nghiên cứu (Replication protocol) có được cung cấp rõ ràng?
Luận án cung cấp bộ tiêu chí chọn mẫu 8 lễ hội đại diện, hệ thống chỉ tiêu phân tích 3 thành tố nhân sinh quan, bảng câu hỏi khảo sát nhận thức chuẩn hóa và giao thức tam giác đạc phương pháp luận chi tiết, cho phép các nhà khoa học khác hoàn toàn có thể nhân bản mô hình nghiên cứu này trên các hệ thống lễ hội tôn giáo, lễ hội dân tộc thiểu số hoặc lễ hội đương đại khác.
-
Luận án đã phác thảo chương trình nghiên cứu 10 năm tới như thế nào?
Luận án định hình lộ trình nghiên cứu dài hạn tập trung vào 3 trọng tâm: (1) Tác động của không gian ảo và trí tuệ nhân tạo đối với niềm tin tôn giáo và nhân sinh quan; (2) Cơ chế chuyển đổi giá trị đạo đức truyền thống sang vốn xã hội phục vụ phát triển kinh tế bền vững; (3) Chiến lược xây dựng hệ giá trị quốc gia và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới.
Kết luận
Tổng kết toàn diện công trình nghiên cứu tiến sĩ, luận án đã đạt được 6 đóng góp khoa học đặc biệt xuất sắc:
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống lý luận triết học mác xít về bản chất, cấu trúc và chức năng của nhân sinh quan người Việt Nam thể hiện qua lễ hội truyền thống.
- Phân tích sâu sắc, toàn diện thực trạng biến đổi hai mặt (tích cực và tiêu cực) trong nhân sinh quan của nhân dân từ năm 1986 đến năm 2024 qua 8 lễ hội tiêu biểu ba miền.
- Giải mã căn nguyên kinh tế, văn hóa, xã hội dẫn đến sự phân hóa ý thức và hiện tượng thương mại hóa không gian tâm linh dưới giác độ duy vật lịch sử.
- Đóng góp dữ liệu thực chứng chuẩn xác, đối sánh với cơ sở dữ liệu 11.124 lễ hội trên phạm vi cả nước và các chỉ số kinh tế - xã hội qua nhiều thập kỷ.
- Đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và 3 nhóm giải pháp đột phá, khả thi nhằm phát huy nhân sinh quan tiến bộ và ngăn chặn sự suy thoái đạo đức xã hội.
- Mở ra 3 dòng chảy nghiên cứu học thuật mới về triết học văn hóa số, xã hội học tôn giáo định lượng và chính sách công nghiệp văn hóa di sản.
Luận án khẳng định luận điểm kinh điển của Ph. Ăngghen: "Tự do không phải là ở sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tự nhiên, mà là ở sự nhận thức được những quy luật đó và ở cái khả năng có được nhờ sự nhận thức này buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định" (Chống Đuy-rinh). Việc làm chủ quy luật biến đổi nhân sinh quan qua lễ hội truyền thống chính là chìa khóa để xây dựng đời sống tinh thần tiến bộ, lành mạnh, củng cố sức mạnh nội sinh của văn hóa, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh và hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.