Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 6 Chương 2: Một số vấn đề lý luận về sự biến đổi nhân sinh quan của người Việt Nam hiện nay qua lễ hội truyền thống Chương 3: Sự biến đổi nhân sinh quan của người Việt Nam hiện nay qua lễ hội truyền thống - Thực trạng và vấn đề đặt ra Chương 4: Quan điểm và giải pháp chủ yếu phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực trong nhân sinh quan của người Việt Nam hiện nay qua lễ hội truyền thống 7 hƣơng 1 TỔN QU N TÌN ÌN N ÊN ỨU L ÊN QU N ĐẾN ĐỀ TÀ LUẬN ÁN 1. Á ÔN TRÌN N ÊN ỨU L ÊN QU N ĐẾN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ N ÂN S N QU N, N ÂN S N QU N CỦ N ƢỜI VIỆT NAM QUA LỄ HỘI TRUYỀN TH NG Liên quan đến vấn đề lý luận chung về nhân sinh quan nói chung và nhân sinh quan người Việt Nam nói riêng, trong khuôn khổ luận án này, nghiên cứu sinh tiếp cận khảo cứu các công trình nghiên cứu sau đây. Trong cuốn sách, tác giả phân tích bản chất của thuyết nhân quả Phật giáo, vận dụng phương pháp phân tích, so sánh những điểm tương đồng và dị biệt giữa các học thuyết Phật giáo và các Triết học Ấn độ cổ đại trong kinh Vê-đa và Upanisad. Thông qua đó, làm nổi bật điểm đặc sắc của nhân quả Phật giáo về phương diện trách nhiệm và giá trị đạo đức trong bối cảnh đời sống xã hội hiện tại và tương lai.
Tác giả khẳng định, “bản chất của mọi sự vật theo Phật giáo không thể tự có mặt vô nhân, càng không thể là thụ tạo của một cái khác. Tất cả là tập hợp của nhân và duyên, tồn tại, phát triển và hoại diệt để tạo thành cái khác bằng một chuỗi tương thuộc của các nguyên nhân” [7; VIII]. Đây là những gợi ý có giá trị và là nguồn tài liệu quan trọng cho nghiên cứu sinh kế thừa để xây dựng và hoàn thiện lý luận về nhân sinh quan được thực hiện trong chương 2 của luận án. Nguyễn Kim Dân (2007), Triết lý nhân sinh trong cuộc sống [6].
Trong cuốn sách, tác giả luận giải vấn đề nhân sinh quan xoay quanh các chủ đề như: thay đổi nhận thức, nghĩ một chút về người khác; để cho người khác một khoảng không gian riêng; quan trọng tình cảm của người khác và đáp lại bằng tình cảm chân thực của mình; biết nghĩ cho người khác; một nụ cười có thể xoá được mọi hiềm khích; một giọt nước ơn nghĩa, hãy báo đáp bằng nguồn nước không bao giờ cạn; tiêu chí đối nhân của con người là hiểu rõ chuẩn mực, tiêu chí xử thế là nắm vững chuẩn mực; không nên sống vì cái nhìn của người khác; có lòng độ lượng và khoan dung mới 8 tránh được đố kỵ; chữ nhân chính là nâng đỡ lẫn nhau; giữ tròn chữ hiếu mới là đạo con; công ơn dưỡng dục của cha mẹ cần chúng ta báo đáp cả đời; lấy bất tranh để đạt vô sở bất tranh, lấy vô vi để đạt vô sở bất vi; đối nhân nhường một bước là cao, xử thế khoan dung một phần là phúc; được người khác tin tưởng là vinh dự của việc làm người, tin tưởng người khác là căn bản của việc làm người; lấy đức báo oán là cảnh giới cao nhất của đời người; lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ; muốn lấy, tất phải cho trước đã; học lễ nghĩa trước học xử thế sau; đời người cần biết cách vứt bỏ,. thông qua các chủ đề, tác giả phân tích, luận giải và làm rõ triết lý nhân sinh của đời người, biểu hiện ra ở nhiều khía cạnh khác nhau như đạo làm người, lòng hiếu thảo của con người đối với các bậc sinh thành, lòng biết ơn đối với người khác, sự hy sinh, lòng trắc ẩn, vị tha, khoan dung, độ lượng, cách đối nhân xử thế, thái độ sống đúng đắn của con người trước nghịch cảnh, … những quan niệm nêu ra trong cuốn sách này được nghiên cứu sinh kế thừa vận dụng trong nghiên cứu về nhân sinh quan của người Việt Nam qua một số lễ hội truyền thống, thể ở các nội dung: quan niệm về cuộc sống; về sự trân trọng, lòng biết ơn; về ước mong, hy vọng có một cuộc sống bình yên, phồn vinh và hạnh phúc được làm rõ ở chương 2. Lê Kiến Cầu (Chu Qúy dịch) (2008), Triết lý nhân sinh [3]. Trong cuốn sách, tác giả phân tích khá cụ thể các vấn đề nhân sinh trên ba phương diện: ý nghĩa nhân sinh, vấn đề nhân sinh và nhân sinh quan.
Trong đó, về ý nghĩa nhân sinh là ý nghĩa, giá trị của sinh mệnh và lý tưởng làm sao thực hiện được tốt đẹp; về vấn đề nhân sinh, các vấn đề phải đối mặt trong nhân sinh, làm thế nào để có được những biện pháp giải quyết tốt; về nhân sinh quan là làm thế nào để đối mặt với các cách nghĩ khác nhau. Theo tác giả, “tất cả những vấn đề này đều nằm trong ý nghĩa và giá trị của nhân sinh, những vấn đề thường phải đối mặt và suy nghĩ, xem xét” [3; tr. Qua đó, người đọc có thể rút ra những suy nghĩ, cách giải quyết hiệu quả các vấn đề của bản thân như: sự cô độc, thật và giả, thiện và ác, nghĩa và lợi, … đây chính là những quan niệm sống của con người về cuộc đời, về mục đích và ý nghĩa của cuộc sống. Công trình này là nguồn tư liệu cho nghiên cứu sinh kế thừa xây dựng quan niệm về nhân sinh quan trong chương 2 của luận án.
9 Vương Mông (2009), Triết học nhân sinh của tôi [68], thông qua chiêm nghiệm từ cuộc đời mình, tác giả đưa ra quan điểm nhân sinh: “Đời người quan trọng nhất là gì? Một là sinh tồn, một nữa là học tập. Chúng ta cần phải biết trân trọng giá trị sinh mệnh cá thể, nhưng sinh tồn không có nghĩa là sống giản đơn. Việc bạn làm quyết định giá trị và chất lượng sinh tồn của bạn, nhưng ở đây học tập là quan trọng nhất”[68; tr. Nguyễn Tất Thịnh (2011), Hành trình nhân sinh quan: Phản tỉnh trên đường trải nghiệm [93].
Cuốn sách tập hợp những bài viết đề cập đến nhiều vấn đề của cuộc sống nhằm chia sẻ những trải nghiệm sống, giúp người đọc tự tìm cho mình những bài học quý giá của nhân sinh, những kỹ năng sống, cách ứng xử Chân - Thiện - Mỹ để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn, luôn có cái nhìn lạc quan vào cuộc sống. Cuốn sách được kết cấu theo 4 phần chính, đó là: chuyện ở đời trong mỗi người (bao gồm những câu chuyện nhẹ nhàng, sâu sắc, tự nó ôm chứa nhiều thông điệp hữu ích); quan sát và chiêm nghiệm xã hội (gồm những khái quát của cuộc sống được nhìn nhận theo "nhân sinh quan hướng thượng); những kiến thức cơ bản cho nhân sinh quan; Những bài thơ tản mạn về tình yêu, cuộc sống, về những triết lý nhân sinh. Tác giả tuy đề cập đến nhiều vấn đề của cuộc sống nhưng tựu chung lại đều toát lên một nội dung chính xuyên suốt đó là: tác giả muốn thông qua những chia sẻ, những trải nghiệm để cùng mỗi người dấn thân đầy hào hứng vào cuộc sống, tìm thấy cho mình những bài học quý giá của nhân sinh, những kỹ năng sống, cách ứng xử Chân - Thiện - Mỹ để hướng tới một ý niệm về hạnh phúc rất thực. Đây là những gợi ý cho nghiên cứu sinh, trong nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về nhân sinh quan.
Đặc biệt, là nghiên cứu khảo sát những vấn đề nhân sinh quan của người Việt Nam thể hiện qua một số lễ hội truyền tiêu biểu, đó là: quan niệm về cuộc sống (ý nghĩa, mục đích của cuộc sống, sống ở đời và làm người); về ước mong, hy vọng có cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, … Nguyễn Thị Thúy Hằng (2015), Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay [26]. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề về nhân sinh quan Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng, 10 cùng với đời sống tinh thần của cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay, tác giả tiến hành phân tích thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay và một số vấn đề đặt ra. Những kết luận này làm cơ sở cho nghiên cứu sinh xây dựng quan niệm về nhân sinh quan của người Việt Nam qua lễ hội truyền thống. Phùng Thị An Na (2015), Nhân sinh quan của người Việt qua folklore Việt Nam [69].
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đền cấp đến vấn đề lý luận chung về nhân sinh quan và nhân sinh quan người Việt qua folklore, qua đó, tác giả phân tích sự phát triển của nhân sinh quan người Việt qua các giai đoạn của lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là những tư tưởng nhân sinh quan bản địa được hình thành trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của ông cha người Việt, đó là sự thâm nhập của các hệ tư tưởng từ bên ngoài vào như Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đã bổ sung và làm hoàn thiện hơn nhân sinh quan của người Việt, rồi sau đó là sự truyền bá đạo Công giáo vào Việt Nam của các tu sĩ người Phương Tây, sự ảnh hưởng của tư tưởng Thiên Chúa giáo càng làm phong phú thêm quan niệm về nhân sinh của người Việt. Tác giả còn làm nổi bật sự ảnh hưởng tư tưởng Phương Tây trong thời kỳ hiện đại, khi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nước ta đã mang theo hệ tư tưởng của họ vào truyền bá nhằm thống trị người Việt Nam về mặt văn hoá tinh thần. Do đó, một số bộ phận người Việt Nam cũng đã ảnh hưởng tư tưởng, quan niệm nhân sinh của người Phương Tây.
Tiếp đến, tác giả tiến hành khảo sát một số khía cạnh nhân sinh quan qua một số lễ hội truyền thống và tín ngưỡng dân gian. Đây là công trình có giá trị, được nghiên cứu sinh kế thừa trong xây dựng lý luận chung về nhân sinh quan và nhân sinh quan của người Việt Nam qua một số lễ hội truyền thống tiêu biểu được phân tích, làm rõ ở chương 2 của luận án. Nguyễn Thế Phúc, Ngô Văn Trân (2016), Triết học tôn giáo với những vấn đề nhân sinh quan: Lý luận và thực tiễn [76].