Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐỀ CẬP ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC TIỄN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP HUYỆN Nâng cao NLTCTT của đội ngũ cán bộ LĐ, QL nói chung, cán bộ LĐ, QL cấp huyện nói riêng là một vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng to lớn đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của chính cán bộ, có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả phát triển KT-XH của địa phương. Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của nâng cao NLTCTT đối với đội ngũ cán bộ LĐ, QL, đã có nhiều công trình khoa học quan tâm nghiên cứu, luận giải vấn đề này. Các cách tiếp cận về lý luận chủ yếu của vấn đề này được thể hiện ở các khía cạnh: bàn về khái niệm, quan niệm của NLTCTT, về vai trò của năng lực thực tiễn (NLTT), về quan niệm nâng cao NLTCTT của đội ngũ cán bộ LĐ, QL.
Cụ thể: - Năng lực tổ chức thực tiễn Tác giả Trương Minh Dục và Nguyễn Mậu Dương (1999) trong bài viết “Tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện là người dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay” [6] đã từ thực trạng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện là người dân tộc thiểu số ở Việt Nam từ khi đổi mới để khái quát lại thành 5 nhóm tiêu chuẩn mà cán bộ lãnh đạo cấp huyện cần có. Trong đó có nhóm tiêu chuẩn có tính điều kiện cần: “tham gia công tác cơ sở ít nhất từ 3-5 năm; trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên; đã qua đào tạo quản lý nhà nước, quản lý kinh tế; thành thạo các ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc thiểu số; có phong cách làm việc dân chủ, sâu sát, gần gũi quần chúng, được nhân dân tín nhiệm; có NLTCTT, giải quyết tốt các vấn đề ở địa phương, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân” [6, tr. Như vậy, theo tác giả NLTCTT là một trong những tiêu chuẩn của người cán bộ LĐ, QL. Đây là gợi ý quan 8 trọng để tác giả luận án xây dựng nội hàm, các yếu tố cấu thành khái niệm NLTCTT của đội ngũ cán bộ LĐ, QL cấp huyện ở tỉnh Bo Kẹo.
Tác giả Nguyễn Quốc Phẩm (1999) trong bài viết “Những nhân tố tác động đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện các tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc” [44] đã nhận diện các yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển đội ngũ cán bộ trên tất cả các phương diện. Như đặc điểm về tự nhiên, địa lý, dân tộc, dân cư; đặc thù thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng cao phía bắc; sự đan xen trong thiết chế xã hội với phương thức quản lý hành chính chính thống và các yếu tố quản lý không chính thống [44, tr. Tác giả cũng đã chỉ ra những truyền thống tốt đẹp cần khai thác kế thừa và những hạn chế, tiêu cực từ thiết chế xã hội truyền thống các vùng dân tộc ít người cần khắc phục. Đây chính là gợi mở quan trọng cho tác giả trong việc đánh giá những nhân tố tác động đến NLTCTT của cán bộ LĐ, QL cấp huyện ở tỉnh Bo Kẹo.
Tác giả Nguyễn Bá Dương (2002) trong bài viết “Về năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện” [6] đã khẳng định hoạt động thực tiễn nói chung của người cán bộ chủ chốt cấp huyện hay tổ chức thực hiện nghị quyết nói riêng là một dạng hoạt động phức tạp, có tính nghề nghiệp cao. Mục đích cuối cùng của hoạt động đó chính là ở chỗ làm thế nào có thể phối hợp, khơi dậy tiềm năng sức mạnh tập thể của con người hướng tới mục tiêu chung của tổ chức [6, tr. Từ đó, tác giả đưa ra năng lực và khả năng cấu thành của năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết của cán bộ chủ chốt cấp huyện bao gồm: i) năng lực nhận thức và khả năng quán triệt nghị quyết; ii) năng lực cụ thể hoá nghị quyết trên cơ sở thực tiễn của địa phương; iii) năng lực phân công bố trí cán bộ, năng lực động viên, tác động tới tổ chức và cá nhân trong quá trình triển khai thực hiện nghị quyết; iv) hiệu quả thực hiện nghị quyết phụ thuộc vào năng lực kiểm tra của người lãnh đạo; và v) năng lực tổng kết, rút kinh nghiệm, bổ sung, hoàn thiện nghị quyết của người lãnh đạo chủ chốt cấp huyện [6, tr. Đây là gợi mở quan trọng 9 giúp tác giả xây dựng cơ sở lý luận về nội dung cấu trúc của khái niệm NLTCTT của đội ngũ cán bộ LĐ, QL cấp huyện.
Tác giả Lê Văn Thái (2002) trong bài viết “Năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết của người cán bộ chủ chốt cấp huyện” [52] từ hướng tiếp cận của chuyên ngành tâm lý học đã đưa ra quan niệm “năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết của người cán bộ chủ chốt cấp huyện là hệ thống thuộc tính tâm lý của nhân cách, đáp ứng yêu cầu của việc tổ chức thực hiện nghị quyết và đảm bảo cho người lãnh đạo đạt hiệu quả cao trong công tác này” [52, tr. Đồng thời tác giả chỉ ra một số thành tố cơ bản của năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết của người lãnh đạo cấp huyện đó là: năng lực nhận thức và cụ thể hoá nghị quyết; năng lực lập kế hoạch hành động; năng lực quy tụ và sử dụng các chuyên gia, đánh giá, tuyển chọn, bố trí sử dụng cán bộ; năng lực động viên, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết; năng lực phân tích, đánh giá tổng kết việc tổ chức thực hiện nghị quyết; năng lực xử lý tình huống trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết [51, tr. Hướng tiếp cận của tác giả là những gợi ý quan trọng giúp tác giả luận án đưa ra nội hàm của khái niệm NLTCTT của đội ngũ cán bộ LĐ, QL cấp huyện tỉnh Bo Kẹo, bởi năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết cũng là một thành tố của NLTCTT. Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai (2005) trong bài viết “Năng lực tổ chức thực tiễn và cấu trúc năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ chủ chốt cấp xã giai đoạn hiện nay” [33] đã đưa ra quan niệm “NLTCTT là những hiểu biết, những kỹ năng và các phẩm chất tâm - sinh lý của chủ thể quản lý đảm bảo cho việc tổ chức thực tiễn đạt hiệu quả” [33, tr.
Theo tác giả, NLTCTT là năng lực tổng hợp của chủ thể quản lý, được hình thành trong việc tổ chức hoạt động vật chất, lao động sản xuất, hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học cá nhân. Năng lực này được thể hiện ở sự hiểu biết, kỹ năng triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ qua việc tập hợp quần chúng thành phong trào rộng lớn nhằm đạt được mục tiêu phát triển KT-XH. Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai (2005) trong bài viết “Nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của chủ tịch ủy ban nhân dân xã vùng đồng bằng sông 10 Hồng” [34] tác giả đã chỉ rõ NLTCTT là năng lực tổng hợp của chủ thể, được hình thành trong thực tiễn hoạt động. tính chất phức tạp của địa bàn cơ sở và đặc trưng hoạt động mang tính trực tiếp, toàn diện, tổng hợp có ảnh hưởng đến NLTCTT.
Tính trực tiếp trong hoạt động dẫn tới tính toàn diện và tổng hợp trong hoạt động. Do vậy, NLTCTT được hình thành thông qua những hoạt động cụ thể. Trên thực tế, một số ít trường hợp có sự không phù hợp giữa nhận thức với kỹ năng hành động. Điều này có thể lý giải bởi vai trò của nhận thức đối với kỹ năng.
Nhận thức làm cơ sở cho kỹ năng, song kỹ năng còn phụ thuộc nhiều vào môi trường và điều kiện làm việc do luyện tập một cách thường xuyên mà thành. Quan hệ giữa nhận thức và hành động còn bị chi phối bởi yếu tố thái độ và động cơ. Có thể thấy NLTCTT là năng lực tổng hợp của chủ thể quản lý, được hình thành và biểu hiện trong việc tổ chức thực tiễn. Nhưng yếu tố chủ quan và khách quan như đã phân tích có ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực này.
Tác giả Phạm Minh Anh (2012) trong cuốn “Vai trò của cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam” [2] đã khẳng định năng lực tổ chức thực hiện của người cán bộ LĐ, QL là khâu quan trọng trong quá trình biến mục tiêu của những chủ trương, chính sách trở thành hiện thực ở địa phương mình. Để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi cán bộ lãnh đạo người quản lý phải xác lập được cơ cấu tổ chức, tập hợp, lôi cuốn mọi người vào hoạt động, phân chia các nhiệm vụ cần thực hiện, bố trí và sắp đặt cán bộ, nhân viên, làm rõ quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của từng cá nhân, tổ chức, nhóm. Nếu thực hiện được điều này, người cán bộ LĐ, QL sẽ sử dụng được và khai thác có hiệu quả nguồn lực của cá nhân và tập thể để khơi dậy tiềm năng của mỗi người, tạo sự đồng thuận trong việc thực hiện các kế hoạch, quyết định đã đề ra. Hiệu quả của tổ chức thực tiễn phụ thuộc rất nhiều vào sự đồng thuận, hay phong trào của quần chúng nhân dân.
Vì vậy, người cán bộ LĐ, QL cơ sở cần có khả năng thu hút, tập hợp quần chúng trên cơ sở của thực tiễn KT-XH, con người của địa phương mình. Trong tất cả các yếu tố trên, yếu tố tổ chức, bố trí, phân công được coi là 11 thành tố cốt lõi nhất trong vai trò tổ chức thực tiễn của người cán bộ, lãnh đạo quản lý [2, tr. Tác giả Nguyễn Văn Huy (2012) trong bài viết “Năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ ở cơ sở”[17] đã đưa ra quan niệm “năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ ở cơ sở là khả năng công tác thành thạo, sáng tạo có hiệu quả các công việc được giao trên thực tế, người cán bộ ở cơ sở không chỉ có khả năng giải quyết đúng mối liên hệ, sự vận động và phát triển của công việc được giao mà còn phải nắm vững và vận dụng thành thạo, sáng tạo những phương pháp, nguyên tắc của phép biện chứng duy vật vào công tác có kết quả” [17, tr.