Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Đặng Văn Khương thực hiện tại Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Thế và TS Hà Đức Long. Công trình thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (mã số: 922 90 02).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận là nền tảng lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định đường lối vận động quần chúng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác dân vận là một bộ phận của công tác dân vận của Đảng và là một mặt hoạt động trọng yếu của công tác đảng, công tác chính trị. Đội ngũ chính trị viên ở cấp phân đội (đại đội, tiểu đoàn và tương đương) giữ vai trò chủ trì, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ dân vận tại cơ sở.

Thực tiễn cho thấy phần lớn chính trị viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm bắt cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh và tổ chức thực hiện tốt công tác dân vận. Tuy nhiên, một bộ phận chính trị viên vẫn bộc lộ hạn chế: khả năng tuyên truyền, vận động chưa thực sự khéo léo; việc thuyết phục quần chúng có thời điểm chưa đạt hiệu quả cao; năng lực nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái còn bất cập. Bối cảnh hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm thúc đẩy "phi chính trị hóa" quân đội đang đặt ra yêu cầu mới. Trước thực tế đó, việc nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là một khoảng trống khoa học cần được giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực này trong giai đoạn hiện nay.

Bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định:

  1. Tổng quan những công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án.
  2. Làm rõ thực chất và những nhân tố cơ bản quy định năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
  3. Đánh giá thực trạng và xác định yêu cầu cơ bản về nâng cao năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực công tác dân vận của chính trị viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bản chất và những nội dung có liên quan đến năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận; năng lực công tác dân vận của chính trị viên và thực chất năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát khách thể nghiên cứu là chính trị viên ở các đơn vị đủ quân, làm nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu thuộc binh chủng hợp thành, bao gồm: Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân khu 1, Quân khu 2 và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý các số liệu điều tra, khảo sát thực tế từ năm 2015 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật và phân loại các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Hướng nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung học thuật đã đạt được
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận - Trần Hậu (2013) [43]
- Nguyễn Đình Hòa (2015) [44]
- Hoàng Chí Bảo (2014 [8], 2019 [9])
- Trần Đình Huỳnh, Đặng Xuân Kỳ (2013) [49]
- Phạm Duy Hoàng (2015) [45]
- Trương Thị Mai (2019) [60]
- Ngô Văn Thạo (2019) [106]
- Thào Xuân Sùng (2018) [102]
- Trần Minh Trưởng (2019) [112]
Phân tích khái niệm "dân", mục đích, nội dung và các nguyên tắc dân vận; khẳng định dân vận là khoa học và nghệ thuật; chỉ rõ ba phương pháp dân vận của Hồ Chí Minh (lấy dân làm gốc, phát huy dân chủ, nêu gương) cùng bốn nguyên lý nghiệp vụ dân vận.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về năng lực dân vận của cán bộ, đảng viên - Nguyễn Bá Quang (2013) [97]
- Nguyễn Văn Hùng (2016) [47]
- Nguyễn Hữu Lập (2017) [52]
- Nguyễn Thị Thu Huyền (2017) [48]
- Bùi Hồng Vạn (2017) [117]
- Cao Thị Hải Yến (2018) [120]
Làm rõ các yêu cầu về phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, trình độ lý luận, kỹ năng tuyên truyền ("thạo nói, thạo viết, thạo tuyên truyền"), năng lực nắm bắt đối tượng, xử lý tình huống và năng lực kiểm tra, rút kinh nghiệm qua thực tiễn.
3. Năng lực dân vận của cán bộ quân đội và chính trị viên - Trần Xuân Trường (2018) [113]
- Vũ Đình Tấn (2001) [105]
- Đặng Sỹ Lộc (2010) [56]
- Trần Hậu Tân (2010) [103]
- Trần Thu Truyền (2011) [111]
- Ngô Xuân Lịch (2016) [54]
- Đoàn Văn Tự (2016) [116]
- Hà Đức Long (2019) [55]
- Trần Quang Phương (2019) [96]
Phân tích chức năng "đội quân công tác" của quân đội; cấu trúc nhân cách, phẩm chất và năng lực toàn diện của chính trị viên (năng lực nhận thức, tổ chức thực tiễn, xử lý các mối quan hệ); yêu cầu đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các công trình tiền nhiệm đã đề cập đến tư tưởng dân vận hoặc nhân cách, năng lực chung của cán bộ chính trị quân đội, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, độc lập và có hệ thống về năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh dưới giác độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xác lập hệ thống khái niệm chuyên biệt, làm rõ cấu trúc bản chất, các nhân tố quy định, phân tích thực trạng thực nghiệm và đề xuất giải pháp đồng bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử; hệ thống quan điểm toàn diện của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và công tác dân vận; các chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận và xây dựng quân đội (tiêu biểu là Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20/7/2005 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam).
  • Khái niệm và khung tiếp cận: Phân tích năng lực dưới góc độ triết học như một thuộc tính bản chất của con người trong hoạt động thực tiễn, đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực, giữa các yếu tố chủ quan bên trong và kết quả hoạt động bên ngoài.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp tiếp cận giá trị học và các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống - cấu trúc, phương pháp kết hợp lôgíc và lịch sử, nghiên cứu văn bản, tài liệu.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp, quan sát thực tế, phương pháp so sánh và phương pháp xin ý kiến chuyên gia.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn tư liệu văn bản: Toàn tập Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, văn bản quy phạm và hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị (bao gồm Quyết định số 1723/QĐ-CT của Tổng cục Chính trị quy định chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên, chính trị viên phó).
  • Nguồn dữ liệu thực tế: Báo cáo tổng kết công tác đảng, công tác chính trị; báo cáo thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận của các đơn vị cơ sở; số liệu điều tra, khảo sát phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp cán bộ, chính trị viên tại Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân khu 1, Quân khu 2 và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội thu thập từ năm 2015 đến năm 2021.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương này tập trung tổng kết các tài liệu học thuật theo hai nhánh nội dung: lý luận chung về tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh và nghiên cứu về năng lực công tác của cán bộ, chính trị viên trong quân đội.

Tác giả chỉ rõ các công trình của Trần Hậu [43], Hoàng Chí Bảo [8], Trương Thị Mai [60] đã phân tích tường minh khái niệm "dân" không phải là phạm trù trừu tượng mà là con người cụ thể trong đời sống thực tế, đồng thời đúc kết phương pháp dân vận của Người. Các công trình quân sự của Vũ Đình Tấn [105], Đặng Sỹ Lộc [56], Trần Thu Truyền [111], Hà Đức Long [55] đã khẳng định chính trị viên là chủ thể trực tiếp lãnh đạo, tổ chức công tác dân vận ở cấp phân đội. Từ việc đánh giá kết quả của các nghiên cứu trước, chương 1 xác định ba vấn đề trọng tâm mà luận án tập trung giải quyết: xây dựng khái niệm công cụ về năng lực công tác dân vận của chính trị viên; khảo sát đánh giá thực trạng trên bình diện triết học; và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực này.

Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương 2 làm rõ bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và xây dựng khung lý thuyết về năng lực công tác dân vận của chính trị viên.

1. Bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận

  • Quan niệm về "dân": Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống "lấy dân làm gốc", Hồ Chí Minh quan niệm "dân" là tất cả những người lao động bình thường trong xã hội, bao gồm "sĩ, nông, công, thương", là đồng bào con Lạc cháu Hồng. Khái niệm này vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính nhân văn và cố kết dân tộc sâu sắc.
  • Quan niệm về "dân vận": Luận án trích dẫn nguyên văn định nghĩa của Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Dân vận" (1949): "Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho" [73, tr. 232].
  • Nội dung và phương pháp dân vận: Nội dung trọng tâm là giải thích cho nhân dân hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ; tổ chức, động viên quần chúng tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Phương pháp dân vận của Người bao gồm: phương pháp tuyên truyền, thuyết phục; phương pháp tập hợp, tổ chức, lãnh đạo; phương pháp kiểm tra, giám sát ("không thể gặp ai cũng phái đi kiểm tra", lãnh đạo phải tự mình kiểm tra); phương pháp nêu gương; và đặc biệt là phương châm hành động: "óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm".

2. Khái niệm và cấu trúc năng lực công tác dân vận của chính trị viên

Theo Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định 1723/QĐ-CT của Tổng cục Chính trị, chính trị viên và chính trị viên phó ở cấp đại đội, tiểu đoàn là người chịu trách nhiệm cao nhất về công tác đảng, công tác chính trị ở cấp phân đội. Công tác dân vận của chính trị viên mang tính lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực tiễn trong môi trường quân sự có kỷ luật chặt chẽ, đối tượng dân vận đa dạng trên các địa bàn đóng quân khác nhau.

Luận án đưa ra định nghĩa:

Năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là sự nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận của chính trị viên và các chủ thể khác vào xây dựng, phát triển phẩm chất và trình độ chuyên môn tạo cho chính trị viên khả năng thực hiện có hiệu quả công tác dân vận theo chức trách, nhiệm vụ trong từng điều kiện lịch sử cụ thể.

Cấu trúc biểu hiện của năng lực công tác dân vận của chính trị viên gồm năm nội dung:

  1. Năng lực nhận thức: Nắm vững nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và hiểu biết sâu sắc đặc điểm kinh tế - xã hội địa bàn đóng quân.
  2. Năng lực lãnh đạo: Trình độ quán triệt chỉ thị, cụ thể hóa thành nghị quyết lãnh đạo của chi bộ, đảng ủy; năng lực đề xuất chủ trương, biện pháp lãnh đạo và chỉ đạo tổ dân vận thực hiện.
  3. Năng lực chỉ huy, quản lý, tổ chức thực hiện: Khả năng phân công lực lượng, phối hợp hiệp đồng với cấp ủy, chính quyền địa phương, kiểm tra, đánh giá và sơ tổng kết công tác dân vận.
  4. Năng lực tuyên truyền, vận động: Kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử, trình độ "thạo nói, thạo viết, thạo tuyên truyền" để vận động nhân dân và bộ đội.
  5. Kết quả thực hiện công tác dân vận của đơn vị: Tiêu chí phản ánh thực tế năng lực thông qua mối quan hệ đoàn kết quân dân và ý thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ tại đơn vị cơ sở.

Tiết 2.2 của chương trình bày các nhóm nhân tố khách quan (sự lãnh đạo của Đảng, môi trường quân sự, đặc điểm địa bàn) và nhân tố chủ quan (phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ tri thức, ý thức tự tu dưỡng rèn luyện) quy định năng lực của chính trị viên.

Chương 3: Thực trạng và yêu cầu nâng cao năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương này đánh giá thực trạng năng lực công tác dân vận của chính trị viên dựa trên các kết quả khảo sát thực tế từ năm 2015 đến 2021 tại các đơn vị thuộc Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân khu 1, Quân khu 2 và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.

Nội dung phân tích thực trạng tập trung vào ba khía cạnh:

  • Nhận thức của chính trị viên và các chủ thể liên quan đối với tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh.
  • Nội dung, chương trình, kế hoạch tự tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ chính trị viên.
  • Kết quả hoạt động thực tiễn công tác dân vận ở đơn vị cấp phân đội.

Luận án làm rõ các ưu điểm nổi bật, chỉ ra những mặt hạn chế, khuyết điểm trong kỹ năng vận động quần chúng, chỉ rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng. Từ đó, tiết 3.2 xác định hệ thống các yêu cầu cơ bản mang tính định hướng nhằm nâng cao năng lực dân vận của đội ngũ này để đáp ứng nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong tình hình mới.

Chương 4: Giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực công tác dân vận của chính trị viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương 4 đề xuất ba nhóm giải pháp cơ bản:

1. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng (Tiết 4.1)

  • Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dân vận cho đội ngũ học viên chính trị viên tại các nhà trường quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kiến thức kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, chính sách dân tộc, tôn giáo và kỹ năng nghiệp vụ thực tiễn cho chính trị viên đang công tác tại đơn vị.

2. Đổi mới tổ chức hoạt động công tác dân vận ở đơn vị cấp phân đội (Tiết 4.2)

  • Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa đơn vị quân đội với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội tại địa phương nơi đóng quân.
  • Đa dạng hóa các hình thức dân vận: hành quân dã ngoại kết hợp làm công tác dân vận, tham gia giúp dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa.
  • Nâng cao chất lượng hoạt động của Tổ dân vận ở cấp phân đội, phát huy dân chủ cơ sở trong cơ quan, đơn vị.

3. Phát huy vai trò nhân tố chủ quan của chính trị viên (Tiết 4.3)

  • Nâng cao ý thức tự học tập, tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn của mỗi chính trị viên theo phong cách dân vận Hồ Chí Minh.
  • Rèn luyện tác phong công tác theo phương châm "óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm", thực hiện nghiêm chuẩn mực nêu gương, nói đi đôi với làm trước bộ đội và nhân dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các điểm đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp về lý luận: Xây dựng và luận giải quan niệm khoa học về năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh dưới giác độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; chỉ rõ cấu trúc biểu hiện và các nhân tố cơ bản quy định năng lực này.
  2. Đóng góp về thực tiễn: Xác định hệ thống yêu cầu cơ bản và đề xuất ba nhóm giải pháp khả thi, đồng bộ nhằm nâng cao năng lực công tác dân vận của chính trị viên ở đơn vị cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
  3. Kiến nghị đề xuất: Luận án đề xuất các giải pháp đổi mới quy trình đào tạo tại nhà trường quân đội, đổi mới cơ chế tổ chức hoạt động dân vận cơ sở và phương thức tự rèn luyện của cán bộ chính trị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế của luận án tập trung vào đối tượng chính trị viên tại các đơn vị đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu thuộc binh chủng hợp thành (Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân khu 1, Quân khu 2, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội) trong giai đoạn 2015-2021; chưa mở rộng khảo sát ở tất cả các quân chủng, binh chủng chuyên ngành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu năng lực công tác dân vận của đội ngũ cán bộ chính trị tại các lực lượng làm nhiệm vụ đặc thù như Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển trong điều kiện tác chiến mới và giao lưu quốc tế sâu rộng.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên: Cung cấp khung lý thuyết triết học và hệ thống tài liệu tổng quan có hệ thống về tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh và năng lực cán bộ chính trị quân đội.
  • Đối với giảng viên và các học viện, nhà trường quân đội: Làm tài liệu tham khảo trực tiếp phục vụ công tác giảng dạy các môn Triết học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Đối với người làm công tác quản lý, lãnh đạo, chỉ huy: Cung cấp cơ sở khoa học để cấp ủy, cơ quan chính trị các cấp xây dựng nội dung bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị viên và nâng cao hiệu quả phong trào thi đua "Dân vận khéo" tại đơn vị cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh" như thế nào?

Theo luận án, đó là sự nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận của chính trị viên và các chủ thể khác vào xây dựng, phát triển phẩm chất và trình độ chuyên môn, tạo cho chính trị viên khả năng thực hiện có hiệu quả công tác dân vận theo chức trách, nhiệm vụ trong từng điều kiện lịch sử cụ thể.

2. Cấu trúc năng lực công tác dân vận của chính trị viên gồm những nội dung biểu hiện nào?

Luận án xác định cấu trúc năng lực này gồm năm nội dung: (1) Năng lực nhận thức về công tác dân vận; (2) Năng lực lãnh đạo công tác dân vận; (3) Năng lực chỉ huy, quản lý, tổ chức thực hiện công tác dân vận; (4) Năng lực tuyên truyền, vận động; (5) Kết quả thực hiện công tác dân vận của đơn vị (tiêu chí đánh giá thực tế).

3. Phương pháp dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh được tác giả đúc kết qua công thức hành động nào?

Tác giả đúc kết phương pháp dân vận của Hồ Chí Minh là: "óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm". Trong đó, "óc nghĩ" đặt lên hàng đầu thể hiện tư duy khoa học và trí tuệ; "mắt trông, tai nghe, chân đi" thể hiện phương pháp bám sát thực tiễn, gần dân; "miệng nói, tay làm" thể hiện sự nêu gương, thống nhất giữa lời nói và hành động.

4. Vị trí và nhiệm vụ của chính trị viên cấp phân đội được căn cứ theo văn bản nào?

Vị trí, vai trò của chính trị viên được căn cứ theo Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20/7/2005 của Bộ Chính trị (quy định chính trị viên có từ cấp đại đội, tiểu đoàn và tương đương, chịu trách nhiệm cao nhất về hoạt động công tác đảng, công tác chính trị tại đơn vị); chức trách của chính trị viên phó được quy định theo Quyết định số 1723/QĐ-CT của Tổng cục Chính trị.

5. Dữ liệu thực tiễn của luận án được khảo sát tại những cơ quan, đơn vị nào?

Dữ liệu được thu thập từ năm 2015 đến năm 2021 tại các đơn vị đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu thuộc binh chủng hợp thành: Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân khu 1, Quân khu 2 và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.


Kết luận

Luận án "Năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh" của tác giả Đặng Văn Khương là công trình nghiên cứu chuyên khảo dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về vấn đề dân vận trong quân đội. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xác lập khung khái niệm và cấu trúc năng lực dân vận của người chính trị viên cấp phân đội. Thông qua việc phân tích thực trạng tại các quân đoàn, quân khu và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội từ năm 2015 đến 2021, tác giả đã đề xuất ba nhóm giải pháp đồng bộ về đào tạo, tổ chức hoạt động và phát huy nhân tố chủ quan. Công trình có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.