Luận án tiến sĩ: Năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Học viện Chính trị Đặng Văn Khương

Phân tích năng lực công tác dân vận của chính trị viên dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh. Tìm hiểu các phương pháp, kỹ năng cần thiết để nâng cao hiệu quả dân vận.

Trường đại học

Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

202
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Nghiên cứu này đi sâu làm sáng tỏ khái niệm cốt lõi. Đó là năng lực công tác dân vận của chính trị viên, một chủ đề trọng tâm trong xây dựng lực lượng vũ trang. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng chỉ đạo toàn bộ quá trình này. Người nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa quân đội và nhân dân. Công tác dân vận chính là sợi dây liên kết bền chặt đó. Năng lực ở đây bao gồm nhiều yếu tố tổng hợp. Chúng gồm nhận thức lý luận, phương pháp vận động và kỹ năng thực tiễn. Chính trị viên phải nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người. Mục tiêu cuối cùng là hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Nghiên cứu tổng quan các công trình liên quan đặt nền móng vững chắc. Từ đó, luận án xác định rõ những vấn đề cần tập trung giải quyết.

1.1. Khái niệm công tác dân vận trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một quá trình vận động. Mục đích là giác ngộ, tập hợp và xây dựng lực lượng quần chúng nhân dân. Người coi đây là công việc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong Quân đội nhân dân, chính trị viên giữ vai trò nòng cốt. Họ là người trực tiếp tổ chức, triển khai công tác dân vận ở đơn vị. Bản chất là xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân-dân ngày càng bền vững. Tư tưởng này nhấn mạnh tính nhân văn và vì lợi ích của nhân dân.

1.2. Vai trò then chốt của chính trị viên trong công tác dân vận

Chính trị viên là hạt nhân lãnh đạo thực hiện đường lối dân vận. Họ chịu trách nhiệm quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh đến cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, họ trực tiếp tổ chức các hoạt động dân vận tại địa phương đóng quân. Vai trò này đòi hỏi người chính trị viên phải có phẩm chất và năng lực toàn diện. Họ phải là cầu nối vững chắc giữa quân đội với cấp ủy, chính quyền và nhân dân. Sự gương mẫu của chính trị viên có sức thuyết phục và lan tỏa lớn.

II. Phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng

Đánh giá thực trạng là bước đi cần thiết để tìm ra giải pháp. Nghiên cứu chỉ ra nhiều kết quả đạt được đáng ghi nhận. Đa số chính trị viên nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của dân vận. Họ có tinh thần trách nhiệm cao và gần gũi với nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục. Một bộ phận chưa nắm chắc phương pháp vận động quần chúng. Kỹ năng xử lý tình huống phức tạp đôi lúc còn lúng túng. Việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn chưa đồng đều. Những tồn tại này chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan. Nhận diện rõ các nhân tố này là cơ sở để đề xuất giải pháp phù hợp.

2.1. Thực trạng về nhận thức và kỹ năng thực hành dân vận

Về nhận thức, đa số chính trị viên xác định rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam. Họ hiểu công tác dân vận góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Tuy nhiên, một số ít còn xem nhẹ, cho rằng đây là nhiệm vụ phụ. Về kỹ năng, khả năng tuyên truyền, thuyết phục có nhiều tiến bộ. Song, kỹ năng tổ chức các hoạt động phong phú, thiết thực vẫn là điểm yếu. Việc tham mưu cho chỉ huy về các mối quan hệ quân-dân đôi khi chưa chủ động.

2.2. Các nhân tố quy định năng lực công tác dân vận

Năng lực này chịu sự chi phối của nhiều nhân tố. Nhân tố chủ quan bao gồm trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị và kinh nghiệm thực tiễn của chính trị viên. Nhân tố khách quan là sự lãnh đạo của cấp ủy, điều kiện đơn vị và đặc điểm địa bàn đóng quân. Sự tác động qua lại giữa các nhân tố tạo nên năng lực thực tế. Việc đào tạo, bồi dưỡng tại các nhà trường quân sự cũng là nhân tố quan trọng. Môi trường rèn luyện trong thực tiễn công tác có ý nghĩa quyết định.

III. Giải pháp nâng cao năng lực công tác dân vận

Nâng cao năng lực công tác dân vận là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Hệ thống giải pháp phải đồng bộ và toàn diện. Trước hết, cần đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng. Nội dung chương trình đào tạo phải bám sát tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn. Phương pháp giảng dạy cần tăng cường tình huống, thực hành. Tiếp theo, phải đổi mới tổ chức hoạt động dân vận ở đơn vị cấp phân đội. Hoạt động cần thiết thực, hướng vào giải quyết vấn đề cụ thể của nhân dân. Cuối cùng, phải phát huy tối đa vai trò chủ quan của mỗi chính trị viên. Họ cần thường xuyên tự học tập, rèn luyện và rút kinh nghiệm. Các giải pháp này có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau.

3.1. Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng tại các nhà trường

Nội dung đào tạo phải hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận. Cần bổ sung các chuyên đề về kỹ năng giao tiếp, thuyết phục và tổ chức quần chúng. Phương pháp lấy người học làm trung tâm, tăng thảo luận, xử lý tình huống giả định. Đội ngũ giảng viên phải am hiểu thực tiễn cơ sở. Cần mời các chính trị viên có kinh nghiệm giỏi tham gia giảng dạy. Kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tập tại các đơn vị, địa phương.

3.2. Phát huy vai trò tự rèn luyện của chính trị viên

Bản thân mỗi chính trị viên phải không ngừng tự hoàn thiện. Họ cần chủ động nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ lý luận. Thực tiễn công tác dân vận tại đơn vị là trường học tốt nhất. Mỗi lần tiếp xúc, vận động nhân dân đều là dịp để rèn luyện kỹ năng. Chính trị viên phải thường xuyên tự phê bình và phê bình để tiến bộ. Tinh thần trách nhiệm và lòng yêu dân là động lực quan trọng nhất.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng nghiên cứu

Luận án đã hoàn thành các mục tiêu đề ra. Kết quả nghiên cứu có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận án đã hệ thống hóa và làm rõ khái niệm năng lực công tác dân vận. Nó chỉ ra bản chất, cấu trúc và các nhân tố quy định năng lực này. Về thực tiễn, nghiên cứu khảo sát và đánh giá sát thực trạng hiện nay. Từ đó, đề xuất được các giải pháp cụ thể, khả thi. Các giải pháp này có thể áp dụng rộng rãi trong toàn quân. Chúng nhằm xây dựng đội ngũ chính trị viên vững vàng, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nghi究 mở ra hướng tiếp cận mới cho đào tạo cán bộ chính trị. Nó cũng gợi ý các chủ đề nghiên cứu tiếp theo liên quan.

4.1. Giá trị lý luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Giá trị lý luận nằm ở việc xây dựng khung khái niệm hoàn chỉnh. Nghiên cứu luận giải sâu sắc quan điểm của Hồ Chí Minh về dân vận và con người. Giá trị thực tiễn thể hiện ở các kiến nghị, giải pháp cụ thể. Các đơn vị có thể vận dụng để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, rèn luyện cho chính trị viên. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giáo dục, đào tạo.

4.2. Định hướng phát triển và ứng dụng trong thực tiễn

Nghiên cứu cần được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện. Có thể áp dụng thí điểm các giải pháp tại một số đơn vị điển hình. Từ đó, rút kinh nghiệm và nhân rộng ra toàn quân. Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực công tác dân vận một cách khoa học. Các nhà trường cần cập nhật kết quả nghiên cứu vào giáo trình. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện cần được tăng cường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và năng lực công tác dân vận của cán bộ, đảng viên Những công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận Tác giả Trần Hậu (2013), “Minh triết Hồ Chí Minh về dân, dân vận và đại đoàn kết toàn dân tộc” [43] và tác giả Nguyễn Đình Hòa (2015), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam [44], các tác giả đã khẳng định vai trò của công tác dân vận trong việc khơi dậy tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử. Đặc biệt, tác giả Trần Hậu đã làm rõ bản chất khái niệm “dân” trong quan niệm của Hồ Chí Minh và chỉ ra nội hàm, “dân” là một khái niệm rất cụ thể, rõ ràng.

Dân không phải là cái trừu tượng, không xác định, mà chính là những người bằng xương, bằng thịt, sống và làm việc quanh ta, hàng ngày, hàng giờ giao tiếp, trao đổi, chia sẻ mọi việc với chúng ta. Hồ Chí Minh đã nhìn thấy từng con người cụ thể trong cộng đồng, hiểu rõ họ, thông cảm và trân trọng đặc điểm riêng về tâm lý, lứa tuổi, nghề nghiệp, hoàn cảnh xã hội, tôn giáo, dân tộc và luôn đặt mình vào hoàn cảnh của họ để thấu hiểu mong muốn họ, gần gũi họ và động viên khích lệ họ, lôi kéo họ về với cách mạng, phát huy sức mạnh nhân dân trong mọi công việc. Tác giả lý giải minh triết Hồ Chí Minh về dân vận xuất phát từ những nội dung cốt lõi về “Dân” trong tư tưởng của Người. Dân vận, theo Hồ Chí Minh là vận động tất cả các lực lượng của mỗi một người dân không để sót 11 một người nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hành những công việc nên làm, những nhiệm vụ được giao.

Tác giả đã chỉ ra những đặc điểm dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Một là, phát động và khai thác mọi tiềm năng của mỗi người dân, bắt đầu từ từng người dân, phát huy tính tích cực xã hội và không để khả năng nào của họ bị lãng phí, dù là khả năng hạn chế, dụng nhân như dụng mộc. Hai là, không bỏ sót một ai, vận động mọi người không phân biệt đối xử. Mọi người dân đều tìm được chỗ đứng xứng đáng của mình trong xã hội và được làm chủ xã hội, đều có được cơ hội để thể hiện vai trò làm chủ đó mà không bị loại trừ. Ba là, mục đích của dân vận là tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân để hoàn thành những việc nên làm và những nhiệm vụ được giao.

Đó là những việc có lợi cho dân, cho nước, cho cả cộng đồng, trong đó có lợi ích của bản thân mỗi người. Bốn là, cách dân vận tốt nhất là làm sao cho mọi người hành động trên cơ sở hiểu biết rõ ý nghĩa của việc mình làm, có sự hướng dẫn, giúp đỡ của lực lượng lãnh đạo. Đó là sự kết hợp giữa tính tự giác của người dân và tinh thần phụ trách của người lãnh đạo với tư cách người phục vụ, người đầy tớ của dân. Tác giả Hoàng Chí Bảo (2014), “Những giá trị bền vững của tác phẩm “Dân vận” [8].

Tác giả lý giải điều cốt yếu lý luận dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận đó gắn chặt với thực hành đạo đức và phong cách dân vận; đặt cơ sở cho công tác dân vận, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền là Dân chủ. Với quan niệm tính khoa học và nghệ thuật của dân vận và công tác dân vận, giá trị cốt lõi của tác phẩm là “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”, tác giả nhấn mạnh: “Công tác dân vận vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật. Chung đúc lại, năng lực và trình độ dân vận là một năng lực văn hóa, là sự tinh tế trong ứng xử văn hóa với nhân dân, phải hiểu dân để dân tin” [8, tr. Theo đó, tác giả đã chỉ ra quan điểm nhân dân và nhân văn Hồ Chí Minh, chỉ dẫn về nội dung dân vận là gì? Ai là người làm công tác dân vận và phương cách trong công tác dân vận như thế nào? tác phẩm Dân vận của Hồ Chí Minh thực sự là 12 một thông điệp mà Hồ Chí Minh gửi tới tất cả chúng ta, cho ta hiểu.

“Nước ta là nước dân chủ”, “Dân vận là gì?”, “Ai phụ trách dân vận” và điều quan trọng nhất, thiết thực nhất “Dân vận phải thế nào”, cả bốn mục ấy đã hội đủ những giá trị bền vững mà chúng ta phải dày công suy nghĩ để hiểu cho đúng và làm cho tốt theo chỉ dẫn của Người. Tác giả Trần Đình Huỳnh, Đặng Xuân Kỳ (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay [49], đã đề cập đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và công tác dân vận. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, quan điểm, nội dung, phương thức tiến hành công tác dân vận và lực lượng làm công tác dân vận. Tác giả cũng chỉ ra phẩm chất, năng lực cần có của người làm công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay.

Để cập đến tính tất yếu sự vận dụng tư tưởng dân vận và công tác dân vận của Hồ Chí Minh của Đảng ta hiện nay; tác giả cũng đã chỉ rõ những mặt đã làm được và những điểm còn khó khăn trong quá trình vận dụng tư tưởng của Người. Tác giả Phạm Duy Hoàng (2015), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc [45], đã phân tích, làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận một cách có hệ thống. Sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan tạo nên nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, trở thành văn hóa dân vận Hồ Chí Minh. Tiền đề tư tưởng, lý luận của sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.

Đặc biệt, tác giả khẳng định, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân là cơ sở quan trọng nhất tác động trực tiếp đến sự hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận. Quan niệm về “dân”, “dân vận” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh hoa của triết học phương Đông, phương Tây và những tư tưởng tiến bộ của dân tộc ta Hồ Chí Minh đã đưa ra 13 quan điểm về dân rất hiện đại, phong phú, mang đậm bản sắc dân tộc: “Theo Hồ Chí Minh, “dân” là tất cả những người lao động bình thường, đông đảo trong xã hội, không phân biệt già trẻ, gái trai, dân tộc, tôn giáo, giàu nghèo, quý tiện, “dân” là tất cả những người lao động trong xã hội và trong khối “dân” đó bao gồm cả sĩ, nông, công, thương” [45, tr. Cùng với chữ “dân”, Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm “Đồng bào”; “Dân” còn được hiểu “bốn phương vô sản đều là anh em”. Như vậy, phạm trù “dân” trong quan niệm của Hồ Chí Minh là một phạm trù rất rộng nhưng vẫn bao hàm tính giai cấp, không chỉ giới hạn trong phạm vi của mối quan hệ giai cấp, mà còn trên cơ sở truyền thống yêu nước, sự gắn bó cố kết cộng đồng và tinh thân cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Dưới góc độ triết học, tác giả luận rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân; nhân dân là gốc của nước, của cách mạng, là nhân tố quy định mọi thắng lợi và dân là lực lượng rất đông, không thuần nhất, muốn phát huy được sức mạnh cần phải được giác ngộ, tổ chức và lãnh đạo [45, tr. Trên cơ sở đó, tác giả luận giải có hệ thống, những nội dung bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận; vị trí, vai trò của dân vận; mục tiêu nguyên tắc thực hành dân vận, thực hiện được mục tiêu dân vận cần phải thực hành gắn liền với các nguyên tắc: “Một là, tất cả vì lợi ích của nhân dân; hai là, thực hành và phát huy dân chủ; ba là, đoàn kết toàn dân” [45, tr. Tác giả Trương Thị Mai (2019), “Tác phẩm dân vận của Hồ Chí Minh - giá trị lý luận và thực tiễn cho công tác dân vận hiện nay” [60], tác giả luận giải dân vận là tâm huyết của Người dành cho mỗi cán bộ, đảng viên, khẳng định sâu sắc quan điểm xuyên suốt tư tưởng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, dân vận là trách nhiệm của hệ thống chính trị và đồng thời còn phản chiếu sinh động, trọn vẹn cả tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh: “Dân vận kết tinh dòng chảy tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và công tác vận động quần chúng của Đảng” [60, tr. Tác giả đã chỉ rõ những nội dung công tác dân vận rất cụ thể theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Là việc làm giải thích cho mỗi người dân hiểu rõ ràng về 14 quyền lợi và nhiệm vụ để họ hăng hái làm cho kỳ được; bất kỳ việc to hay nhỏ cũng đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến dân, cùng dân đặt kế hoạch cho thiết thực; động viên, tổ chức toàn dân thi hành và thi hành xong phải cùng dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng.

Qua đó, tác giả đưa ra 4 nguyên lý cơ bản của nghiệp vụ dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trở thành phương thức triển khai trong nhận thức và hành động của các chủ thể tiến hành công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ