Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ và ý nghĩa của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đỗ Việt Hà thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Lê Thị Lan và PGS. TS Nguyễn Anh Tuấn, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02), hoàn thành năm 2017.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc qua con đường giao lưu, tiếp biến văn hóa và sự áp đặt của chính quyền phong kiến phương Bắc. Đến đầu thế kỷ XIX, khi triều Nguyễn thiết lập chế độ quân chủ trung ương tập quyền chuyên chế, Nho giáo được củng cố và sử dụng làm hệ tư tưởng chính thống độc tôn để xây dựng và quản lý quốc gia. Trong đội ngũ trí thức Nho học thời kỳ này, Nguyễn Công Trứ là một Nho sĩ kiệt xuất, xuất sắc cả về văn nghiệp lẫn võ công và năng lực quản lý kinh tế - xã hội.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Mặc dù cuộc đời, sự nghiệp và thi văn của Nguyễn Công Trứ đã được nhiều học giả thuộc các ngành sử học, văn học quan tâm, song việc tiếp cận và giải mã hệ thống tư tưởng Nho giáo của ông dưới góc độ triết học vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện và chuyên sâu. Việc nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ có ý nghĩa lý luận trong việc làm sáng tỏ diện mạo tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, đồng thời cung cấp bài học thực tiễn cho việc tham khảo xây dựng mẫu hình người quản lý xã hội "vừa hồng vừa chuyên" trong bối cảnh hiện nay.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định mục đích tổng quát là làm sáng tỏ các nội dung tư tưởng Nho giáo của nhà Nho Nguyễn Công Trứ và ý nghĩa của hệ tư tưởng này trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Để đạt được mục đích trên, tác giả đề ra ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ cơ sở kinh tế - xã hội, văn hóa - tư tưởng và tiền đề thực tiễn hình thành tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ.
  2. Phân tích và luận giải các nội dung cơ bản trong tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ, bao gồm quan niệm về trời - người, đạo làm người và quan điểm tri - hành.
  3. Làm rõ ý nghĩa của tư tưởng Nho giáo Nguyễn Công Trứ đối với thời đại nửa đầu thế kỷ XIX và giá trị gợi mở đối với giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nội dung tư tưởng Nho giáo cơ bản của Nguyễn Công Trứ thể hiện trong thơ văn, trước tác và các tài liệu lịch sử liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của ông.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các trước tác thi văn chữ Nôm và chữ Hán của Nguyễn Công Trứ; các bộ chính sử của triều Nguyễn và các công trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa, tư tưởng liên quan đến giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX tại Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài thành các nhóm chính:

Nhóm hướng nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung và đánh giá của luận án
Cơ sở hình thành tư tưởng (Kinh tế, Chính trị, Văn hóa thời Nguyễn) - Nguyễn Thế Anh (1971): Kinh tế xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn
- Đỗ Bang (1996, 1997, 2007): Các công trình về thương nghiệp, ngoại thương và bộ máy nhà nước triều Nguyễn
- Nguyễn Sĩ Hải (1962): Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn sơ: 1802 – 1847
- Trần Văn Giàu (1973): Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám
- Lê Sỹ Thắng (1997), Doãn Chính (2013), Nguyễn Phan Quang (1971, 1999)
Khảo cứu cụ thể diện mạo kinh tế, chính trị quân chủ tập quyền, luật Gia Long và giáo dục thi cử triều Nguyễn; cung cấp cơ sở sử liệu nhưng chưa gắn kết trực tiếp thành hệ thống cơ sở hình thành tư tưởng của một nhân vật cụ thể.
Nghiên cứu về Nho giáo Việt Nam - Đào Duy Anh: Khổng giáo phê bình tiểu luận
- Phan Bội Châu: Khổng học đăng
- Trần Trọng Kim: Nho giáo
- Nguyễn Tài Thư: Nho học và Nho học ở Việt Nam (và các bài báo 2009)
- Kỷ yếu HTKH Viện Triết học (1994, Lê Sĩ Thắng tập hợp): Tham luận của Vũ Khiêu, Đào Duy Anh
- Luận án, luận văn: Nguyễn Hoài Văn (2001), Nguyễn Thị Thanh Mai (2007)
Phân tích bản chất học thuyết Nho giáo, sự du nhập và khúc xạ của Nho giáo tại Việt Nam qua các thời kỳ, xác lập khung lý luận về vai trò đạo đức và chính trị của Nho gia.
Nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp và trước tác Nguyễn Công Trứ - Lê Thước (1928): Sự nghiệp và thi văn của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ
- Trương Chính (1983): Lời giới thiệu sách Thơ văn Nguyễn Công Trứ
- Doãn Quốc Sỹ - Việt Tử: Khảo luận về Nguyễn Công Trứ
- Vũ Ngọc Khánh (1996), Trần Nho Thìn (2007), Nguyễn Đức Mậu (2009), Mai Khắc Ứng (2001), Đoàn Tử Huyến (2008)
- Đề tài Viện Triết học: Lê Thị Lan (2007)
Khai thác sâu khía cạnh văn học (thể hát nói, thơ Nôm), thân thế lịch sử và chiến công quân sự, khẩn hoang (doanh điền), nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở góc độ văn học sử hoặc tiểu sử học.
Nghiên cứu về tư tưởng và ý nghĩa tư tưởng Nguyễn Công Trứ - Nguyễn Bách Khoa (1944): Tâm lý và tư tưởng Ng. Công Trứ
- Nguyễn Nghiệp (1962), Chương Thâu (1978), Nguyễn Tài Thư (1978), Phạm Ngọc Uyển (2004)
- Vũ Đình Trác (1988): Luận án Triết lý chấp sinh Nguyễn – Công – Trứ
- Nguyễn Viết Ngoạn (2010), Trần Nho Thìn (2008)
Nhận diện được một số mâu thuẫn tư tưởng, chí nam nhi, tư tưởng tri hành hợp nhất và quan niệm chấp sinh; tuy nhiên cách tiếp cận còn phân tán, một số công trình mang tính chủ quan hoặc chưa đánh giá toàn diện ý nghĩa triết học.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận Nguyễn Công Trứ dưới góc độ văn học, lịch sử hoặc chỉ phân tích những khía cạnh tư tưởng đơn lẻ (như quan niệm hành lạc, chí làm trai, tư tưởng khẩn hoang). Luận án của Đỗ Việt Hà lựa chọn tiếp cận toàn diện trên bình diện triết học để hệ thống hóa tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ thành một chỉnh thể từ vũ trụ quan (trời - người) đến nhân sinh quan (đạo làm người, quân tử) và nhận thức luận - hành động luận (tri - hành), qua đó đánh giá đúng đắn vị trí và ý nghĩa của tư tưởng này trong dòng chảy lịch sử tư tưởng Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là các nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, quan điểm lịch sử - cụ thể, và quan điểm thực tiễn trong đánh giá các hiện tượng tư tưởng.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Các bộ sử chính thống của triều Nguyễn và về triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Hoàng triều luật lệ...).
  • Toàn bộ các tác phẩm thơ, phú, văn tế, câu đối, thể hát nói (ca trù), bản tuồng và các tờ sớ tâu về chính trị - kinh tế của Nguyễn Công Trứ.
  • Các công trình khảo cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học và chuyên khảo của các nhà nghiên cứu lịch sử, triết học và văn học Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành khoa học xã hội:

  • Phương pháp logic kết hợp với lịch sử: Dựng lại tiến trình lịch sử nửa đầu thế kỷ XIX để rút ra logic phát triển tư tưởng của Nguyễn Công Trứ.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các văn bản thơ văn, hành trạng thực tế để khái quát thành các luận điểm triết học.
  • Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Đặt các quan niệm về trời, người, đạo đức, tri hành trong một cấu trúc tư tưởng Nho giáo thống nhất.
  • Phương pháp văn bản học và thông diễn học: Giải mã các tầng ý nghĩa biểu đạt trong trước tác chữ Nôm, thuật ngữ Nho gia được tác giả sử dụng.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp triết học, sử học, văn học và khoa học quản lý.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu gồm 4 chương, 12 tiết với các nội dung trọng tâm như sau:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này thực hiện tổng kết, phân loại và đánh giá bốn nhóm công trình nghiên cứu:

  1. Nhóm nghiên cứu về bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa thế kỷ XIX (công trình của Nguyễn Thế Anh, Đỗ Bang, Trần Văn Giàu, Lê Sỹ Thắng, Doãn Chính).
  2. Nhóm nghiên cứu về học thuyết Nho giáo và sự biến đổi của Nho giáo ở Việt Nam (công trình của Đào Duy Anh, Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Nguyễn Tài Thư, Vũ Khiêu).
  3. Nhóm nghiên cứu về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp kinh tế - quân sự và trước tác văn chương của Nguyễn Công Trứ (công trình của Lê Thước, Trương Chính, Vũ Ngọc Khánh, Mai Khắc Ứng, Đoàn Tử Huyến, Trần Nho Thìn).
  4. Nhóm nghiên cứu về tư tưởng triết học và ý nghĩa tư tưởng của Nguyễn Công Trứ (công trình của Nguyễn Bách Khoa, Nguyễn Nghiệp, Nguyễn Tài Thư, Chương Thâu, Phạm Ngọc Uyển, Vũ Đình Trác, Nguyễn Viết Ngoạn).

Chương 1 khẳng định tính cần thiết của việc xây dựng một công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ dưới góc độ triết học Mác – Lênin.

Chương 2. Cơ sở hình thành tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ

Chương 2 phân tích các tiền đề khách quan và nhân tố chủ quan tạo nên thế giới quan và nhân sinh quan của Nguyễn Công Trứ:

  • Bối cảnh chính trị - xã hội: Triều Nguyễn sau năm 1802 thiết lập chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền cao độ, thi hành quy chế "tứ bất" (không đặt tể tướng, không lấy trạng nguyên, không lập hoàng hậu, không phong vương cho người ngoại tộc) và ban hành bộ Hoàng triều luật lệ (Luật Gia Long năm 1815) kết hợp chặt chẽ giữa Đức trị và Pháp trị. Nền chính trị đối diện với nhiều mâu thuẫn xã hội và các cuộc khởi nghĩa nông dân.
  • Bối cảnh kinh tế: Nền kinh tế tiểu nông "dĩ nông vi bản" với chính sách quân điền, khai hoang lập ấp thông qua phương thức "doanh điền" và "đồn điền"; chính sách "ức thương", bế quan tỏa cảng kìm hãm thương nghiệp và thủ công nghiệp.
  • Bối cảnh văn hóa - tư tưởng: Sự độc tôn Nho giáo của triều đình qua chế độ khoa cử, việc ban hành Thập huấn điều, thành lập Quốc sử quán, hoàn thiện Quốc Tử Giám và biên soạn các tác phẩm như Minh Mạng chính yếu.
  • Nhân tố chủ quan (thân thế, sự nghiệp, trước tác): Xuất thân từ truyền thống hiếu học của dòng họ và quê hương Hà Tĩnh; cuộc đời trải qua nhiều thăng trầm (từ hàn vi, đỗ đạt Giải nguyên, làm quan kinh qua nhiều chức vụ dân sự, quân sự, nhiều lần bị giáng chức làm lính thú rồi lại được phục chức); hệ thống trước tác phong phú bằng chữ Nôm (thơ, phú, hát nói ca trù, văn tế, sớ tâu) phản ánh tinh thần nhập thế tích cực.

Chương 3. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo Nguyễn Công Trứ

Chương 3 là phần trọng tâm trình bày hệ thống tư tưởng Nho giáo của tác giả qua ba trục nội dung:

  • Tư tưởng về trời, người và mối quan hệ trời - đất - người: Nguyễn Công Trứ tiếp thu quan niệm thiên mệnh của Nho giáo nhưng không rơi vào định mệnh luận tiêu cực. Ông nhìn nhận "trời" như một quy luật khách quan (tuần hoàn biến dịch), đồng thời đề cao vị thế chủ động của con người giữa trời đất ("Trời đất cho ta một cái tài / Giắt lưng dành để tháng ngày chơi"). Con người đứng trong thế tam tài (Thiên - Địa - Nhân) có bổn phận và trách nhiệm gánh vác việc đời.
  • Tư tưởng về đạo làm người:
    • Quan niệm về đạo đức và quan hệ xã hội: Duy trì các chuẩn mực tam cương (quân thần, phụ tử, phu thê) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), đề cao lòng trung quân gắn liền với ý thức trách nhiệm đối với quốc gia, xã hội.
    • Quan niệm về người quân tử và chí nam nhi: Xây dựng mẫu hình người quân tử hành động, khẳng định "chí làm trai" phải lập công, lập danh, đem tài năng phục vụ đất nước ("Đã mang tiếng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông"). Ông dung hợp giữa tinh thần trách nhiệm Nho gia với ý thức tự khẳng định cá tính cá nhân và tinh thần lạc quan, phóng khoáng ("ngất ngưởng").
  • Tư tưởng tri và hành: Nguyễn Công Trứ chủ trương "tri hành hợp nhất", phê phán lối học từ chương tầm chương trích cú xa rời thực tế. Nhận thức (tri) phải chuyển hóa thành hành động thực tiễn (hành) để cứu đời, giúp dân, thể hiện qua các chủ trương khai hoang (thành lập huyện Tiền Hải - Thái Bình, Kim Sơn - Ninh Bình), trị thủy và bình định an ninh trật tự.

Chương 4. Ý nghĩa của tư tưởng Nho giáo Nguyễn Công Trứ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Chương 4 luận giải các giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Nguyễn Công Trứ:

  • Ý nghĩa đối với thời đại nửa đầu thế kỷ XIX:
    • Góp phần làm sáng tỏ và hiện thực hóa quan niệm Nho giáo về vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội.
    • Phát triển tư tưởng đạo làm người theo hướng tích cực, gắn lý tưởng Nho sĩ với hành động kinh bang tế thế vì cuộc sống của nhân dân.
    • Chứng thực hiệu quả của nguyên lý "tri hành hợp nhất" thông qua toàn bộ sự nghiệp chính trị, quân sự và kinh tế thực tiễn của một vị đại thần triều Nguyễn.
  • Ý nghĩa đối với giai đoạn hiện nay:
    • Cung cấp luận cứ khẳng định và phát huy vai trò của nhân tố con người trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    • Gợi mở bài học về xây dựng đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội và phẩm chất người cán bộ quản lý vừa có đức vừa có tài.
    • Củng cố quan điểm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, khắc phục bệnh giáo điều và lý thuyết suông.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

  1. Về mặt lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống dưới góc độ triết học về tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ. Công trình làm rõ quá trình tiếp thu, khúc xạ và vận dụng sáng tạo các nguyên lý Nho giáo (về vũ trụ quan, nhân sinh quan, nhận thức luận) của một trí thức tiêu biểu nửa đầu thế kỷ XIX, qua đó bổ sung nguồn tư liệu khoa học cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thời Nguyễn.
  2. Về mặt thực tiễn: Luận án phân tích mô hình nhân cách và năng lực hành động của Nguyễn Công Trứ như một mẫu hình Nho sĩ nhập thế, cung cấp kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý xã hội hiện nay đáp ứng yêu cầu năng động, dám nghĩ, dám làm và gắn bó mật thiết với lợi ích của nhân dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu trước tác của Nguyễn Công Trứ phần lớn được lưu truyền dưới dạng thơ văn dân gian, ca trù truyền khẩu và các bài sớ rải rác trong chính sử (theo ước tính có khoảng 1000 bài nhưng hiện chỉ còn tập hợp được hơn một trăm bài), việc phục dựng toàn bộ các tầng bậc tư tưởng triết học phải dựa trên phương pháp thông diễn và suy nguyên văn bản, gặp những giới hạn nhất định về khối lượng văn bản gốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng so sánh tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ với các Nho sĩ cùng thời dưới triều Nguyễn (như Cao Bá Quát, Nguyễn Đức Đạt, Miên Thẩm).
    • Nghiên cứu sâu hơn về sự kết hợp giữa các yếu tố Nho - Phật - Đạo trong thế giới quan và lối sống của Nguyễn Công Trứ ở giai đoạn cuối đời.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu nghiên cứu và học tập có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Triết học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Văn hóa học, Sử học và Văn học trung đại Việt Nam.
  • Giảng viên các trường Đại học và Cao đẳng sử dụng làm tài liệu tham khảo trực tiếp trong giảng dạy các học phần: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Lịch sử Triết học phương Đông, và Tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam thời phong kiến.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa và người làm công tác quản lý: Tham khảo các bài học về chính sách khai hoang, tổ chức quản lý xã hội và phẩm chất đạo đức của người cán bộ quản lý công quyền.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở kinh tế - xã hội chính hình thành nên tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ là gì?
Đó là bối cảnh Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn: thiết lập nhà nước quân chủ trung ương tập quyền cao độ, luật pháp kết hợp Đức trị và Pháp trị qua bộ luật Gia Long 1815; nền kinh tế nông nghiệp "trọng nông" với chính sách quân điền, doanh điền song song với chính sách "ức thương", bế quan tỏa cảng kìm hãm thương nghiệp; cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của chế độ khoa cử Nho học.

2. Điểm đặc sắc trong quan niệm về "trời - người" của Nguyễn Công Trứ là gì?
Nguyễn Công Trứ thừa nhận quy luật biến dịch khách quan của tự nhiên và thiên mệnh, nhưng ông không rơi vào thái độ tiêu cực, thụ động. Ông coi con người là một chủ thể tích cực trong thế tam tài (Thiên - Địa - Nhân), có trách nhiệm dùng tài năng và hành động thực tế để cải tạo hoàn cảnh và thực hiện bổn phận với xã hội.

3. Quan niệm "chí nam nhi" và "người quân tử" của Nguyễn Công Trứ có gì khác biệt so với Nho giáo truyền thống?
Bên cạnh việc tuân thủ các phạm trù đạo đức Nho giáo như tam cương ngũ thường và lý tưởng lập công lập danh, Nguyễn Công Trứ đã đưa vào hình mẫu người quân tử ý thức cá nhân mạnh mẽ, tinh thần tự khẳng định cá tính ("ngất ngưởng"), dám chịu trách nhiệm trước lịch sử và sự hòa quyện giữa nghĩa vụ phong kiến với tinh thần phục vụ dân sinh.

4. Khái niệm "tri hành hợp nhất" được thể hiện như thế nào trong sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ?
Tư tưởng "tri hành" của ông đòi hỏi nhận thức lý luận Nho giáo phải được chứng thực bằng hiệu quả hành động cụ thể. Điều này thể hiện qua toàn bộ thực tiễn công tác của ông: từ việc dâng sớ trị quốc, trực tiếp tổ chức chiêu mộ dân nghèo khẩn hoang lập nên hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn, đến năng lực cầm quân trên cương vị tướng lĩnh quân sự.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Triết học của Đỗ Việt Hà đã làm sáng tỏ một cách toàn diện cơ sở hình thành, nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Nho giáo Nguyễn Công Trứ. Công trình khẳng định Nguyễn Công Trứ là hình mẫu tiêu biểu cho mẫu hình nhà Nho hành động với tư tưởng "tri hành hợp nhất", đề cao vị thế con người và tinh thần trách nhiệm xã hội. Những phát hiện và luận điểm của luận án không chỉ đóng góp quan trọng vào công tác nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thời phong kiến mà còn mang lại giá trị tham khảo thực tiễn trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn hiện nay.