Chương 1: CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ 1. Điều kiện lịch sử xã hội Trung Quốc cổ đại với việc hình thành tư tưởng đạo đức của Khổng Tử Như chúng ta đã biết, sự xuất hiện của mỗi học thuyết, tư tưởng không phải một cách ngẫu nhiên hay từ hư vô, mà luôn có cơ sở khách quan của nó. Một trong những cơ sở khách quan quan trọng mà từ đó các học thuyết, tư tưởng ra đời, tồn tại và phát triển là điều kiện kinh tế - xã hội.Mác từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [44, 156]. Nhà nghiên cứu Hồ Thích của Trung Quốc cũng từng khẳng định: “Phàm đã gọi là một học thuyết quyết không thể là một cái gì từ trên trời rơi xuống.
Nếu nghiên cứu tỉ mỉ hơn chúng ta tất sẽ tìm ra được nhiều nguyên nhân xảy ra trước và hậu quả về sau của nó” [63, 53]. Giáo sư Vũ Khiêu cũng cho rằng: “Không thể nào hiểu được sâu sắc mọi trào lưu tư tưởng nếu tách nó khỏi hoàn cảnh lịch sử và cơ sở vật chất của sự ra đời và phát triển của nó” [34, 13]. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng đạo đức của Khổng Tử cũng không phải là một ngoại lệ. Do đó, để có được một cái nhìn đúng đắn, khách quan về tư tưởng đạo đức của Khổng Tử chúng ta không thể không đi vào nghiên cứu, tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị của thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc – thời đại mà tư tưởng Khổng Tử nói chung cũng như tư tưởng đạo đức của Khổng Tử nói riêng nảy sinh, hình thành và phát triển.
Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử được ra đời trong thời Xuân Thu – Chiến Quốc – thời đại mà về mặt kinh tế - xã hội có những chuyển biến hết sức căn bản và lớn lao. Chế độ chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông mà 9 đỉnh cao là chế độ “tông pháp” nhà Chu đang suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành. Trong xã hội Trung Quốc thời kỳ này diễn ra những biến đổi hết sức sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho sự giải phóng tư tưởng của con người thoát khỏi thế giới quan tôn giáo duy tâm thần bí, mở đường cho sự phát triển của tư tưởng triết học. Về mặt thời gian, thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc được xem bắt đầu từ năm 770 tr.CN và kết thúc vào năm 221 tr.
Tương ứng với thời kỳ này là triều đại nhà Đông Chu (770 tr. Sự kiện đánh dấu cho sự bắt đầu của thời kỳ này là khi Chu Bình Vương dời đô về phía Đông Lạc Ấp (năm 771 tr.CN) và kết thúc là khi nhà Tần diệt Chu (221 tr.CN) lập ra nhà nước phong kiến đầu tiên ở Trung Quốc. Về mặt kinh tế, thời kỳ này nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt. Việc phát hiện và sử dụng một cách phổ biến công cụ đồ sắt đã tạo ra một cuộc cách mạng trong công cụ sản xuất thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực.
Ngành đầu tiên có sự phát triển mạnh mẽ đó là nông nghiệp. Nông nghiệp vốn là một ngành kinh tế có truyền thống lâu đời và giữ vai trò hết sức quan trọng ở Trung Quốc. Trước khi đồ sắt ra đời, nông nghiệp là ngành có năng suất thấp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Tuy nhiên, khi đồ sắt ra đời đã đem lại cho người Trung Quốc những tiến bộ mới trong cải tiến công cụ sản xuất và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp.… Chính nhờ vậy, sức sản xuất trong nông nghiệp được tăng đáng kể, năng suất lao động nông nghiệp không ngừng được nâng cao, các loại cây trồng ngày càng nhiều, hệ thống thủy lợi được trải rộng; diện tích canh tác được mở rộng không ngừng.
Cùng với những cải tiến mạnh mẽ trong công cụ sản xuất nông nghiệp tất yếu dẫn đến những thay đổi trong quan hệ sản xuất cổ truyền. Trước đây, ruộng đất chia theo chế độ “tỉnh điền”. Mỗi đơn vị của “tỉnh điền” gồm có 10 chín mảnh, tám mảnh xung quanh được giao cho nông dân cày cấy để trực tiếp thu hoa lợi, mảnh ở giữa là công điền, tám nhà xung quanh phải chung sức canh tác cho nhà nước. Trên cơ sở của chế độ “tỉnh điền” hình thành nên hai giai cấp chính là quý tộc và thường dân, và tương ứng với chế độ đó là hình thức sở hữu vương quyền, tức là đất đai hoàn toàn thuộc về nhà vua.
Đến thời Đông Chu, xuất hiện đất đai sở hữu tư nhân ngày càng nhiều. Bởi người ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt hay xấu như trước nữa. Giờ đây, công xã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời gian lâu dài. Vì vậy, nông nô có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng.
Bên cạnh đó, một số người bình dân do có chút công trạng trong chiến trận mà có quyền lực đã ỷ vào đó để chiếm ruộng đất công thành ruộng tư; một số khác là nhà buôn giàu có đã dành tiền để mua ruộng đất; một số khác nữa là những người nghèo khổ đã tập hợp nhau lại để tiến hành khai khẩn ruộng hoang và trở thành chủ sở hữu lớn về ruộng đất. Tình hình trên, một mặt, đã làm cho chế độ “tỉnh điền” dần dần tan rã, chế độ tư hữu ruộng đất từng bước được hình thành và được nhà nước thừa nhận; mặt khác, đã hình thành trong xã hội một giai cấp mới – giai cấp địa chủ và hai loại nông dân mới – nông dân tá điền và nông dân tự canh. Trong đó, giai cấp địa chủ mới vừa giàu có về kinh tế, vừa đòi hỏi quyền lực về chính trị. Họ tham gia vào giai cấp thống trị xã hội, sánh vai cùng giai cấp chủ nô.
Cùng với việc thay đổi quan hệ sản xuất đồng thời dẫn tới thay đổi phương thức thu thuế của nông dân. Trước đây, theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã được chia đều cho nông nô, nông nô phải nộp một phần sản lượng nông phẩm thu hoạch được cho công xã để nộp lên triều đình. Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số lượng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước đã bãi bỏ hình thức thu thuế đồng loạt như trước 11 mà thi hành chế độ thu thuế mới, đánh thuế vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu), căn cứ vào diện tích đất của chủ đất để đánh thuế. Đây chính là thời kỳ đánh dấu sự xuất hiện chính thức của thuế ruộng đất ở Trung Quốc.
Nước đầu tiên thi hành chế độ thuế mới này là nước Lỗ vào năm 594 tr. Đồ sắt ra đời không chỉ thúc đẩy nền nông nghiệp Trung Quốc phát triển mà đồng thời còn thúc đẩy nền thủ công nghiệp phát triển. Nếu như thời Xuân Thu, thủ công nghiệp được coi là nghề phụ, sản xuất chỉ nhằm mục đích phục vụ chiến tranh và thỏa mãn nhu cầu của tầng lớp quý tộc, thì đến thời kỳ này thủ công nghiệp đã dần dần phát triển trở thành một ngành sản xuất ngày càng chuyên môn hóa và độc lập với nông nghiệp. Sự xuất hiện và phổ biến của đồ sắt làm cho sự phân công lao động trong sản xuất thủ công nghiệp đạt tới trình độ cao, chuyên nghiệp hơn, thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm,… Chẳng hạn, vào cuối thời Xuân Thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt với hơn 300 thợ.
Nước Tấn trưng thu sắt để đúc đỉnh hình. Trong sách Chu lễ có viết về sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp rằng: “Thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…”. Sự xuất hiện các ngành nghề thủ công đa dạng đồng nghĩa với việc hàng hóa thủ công nghiệp trên thị trường ngày càng phong phú: “Sản phẩm đa dạng, phong phú và tinh tế, đồ chạm vàng bạc và dát vàng bạc, hàng dệt lụa, đồ sơn là những sản phẩm thủ công tinh xảo thời Chiến Quốc; trong đó nổi tiếng nhất là hàng tơ lụa màu của nước Tề, đồ sơn có tranh vẽ màu của nước Sở” [61, 223]. Sự phát triển đa dạng của nhiều ngành nghề, nhiều mặt hàng thủ công nghiệp về mặt kinh tế đã có ý nghĩa tích cực trong việc giải phóng sức lao động, góp phần phá vỡ nền kinh tế thuần nông, nâng cao đời sống của nhân dân Trung 12 Quốc thời cổ đại, nhưng về mặt chính trị, mặc dù số thợ thủ công nghiệp đông nhưng do trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội.
Cùng với nông nghiệp và thủ công nghiệp, đồ sắt ra đời và trở nên phổ biến còn tạo cơ sở cho thương nghiệp phát triển hơn trước, hoạt động giao lưu buôn bán diễn ra sôi động. “Trên thị trường các nước trưng bày đủ đặc sản khắp nơi như cá miền Đông, trân châu, ngà voi miền Nam, da tê giác miền Tây, ngựa miền Bắc…” [61, 223]. Tuy nhiên, do tình trạng xã hội rối ren, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn chư hầu cát cứ, phương tiện giao thông thô sơ, đường sá đi lại khó khăn, do đó việc kinh doanh không phải ai cũng làm được mà chỉ những người nào có quen biết, kết giao với quan lại, người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm thì mới làm được. Hơn nữa, trong quan niệm của người Trung Quốc luôn xem thường, khinh rẻ nghề buôn bán, coi đó là nghề rẻ mạt nhất với tư duy “nông bản, thương mạt”, “trọng nông, ức thương”.
Chính vì thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời kỳ này chưa thực sự phát triển. Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán, nhất là với sự xuất hiện của tiền tệ, đã tạo ra trong xã hội một tầng lớp thương nhân giàu có, danh tiếng như Phạm Lãi, Huyền Cao (nước Trịnh),… Họ ngày càng có thế lực, kết giao rộng rãi với các chư hầu, công khanh, đại phu, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ, gây nhiều ảnh hưởng tới đời sống chính trị đương thời.