Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi trên thế giới chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật cho con người, trong đó thịt gia cầm chiếm 20% - 25% trong tổng sản phẩm thịt của thế giới, ở các nước phát triển thịt gà chiếm trên 30%. Ngành chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam là một bộ phận quan trọng cấu thành của ngành kinh tế nông nghiệp Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng trong nền kinh tế nước nhà, chăn nuôi gia súc, gia cầm là một trong những nguồn cung cấp lương thực, thiết yếu cho xã hội. Cũng là ngành kinh tế giúp cho người nông dân tăng được thu nhập và giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Chăn nuôi gà là truyền thống lâu đời tại Việt Nam đây cũng chính là một trong những ngành cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng ở nước ta trước ở nước ta chăn nuôi chủ yếu theo phương thức nhỏ lẻ nông hộ nhưng do dân số tăng cao thúc đẩy nguồn cung ứng thỏa mãn nhu cầu thực phẩm, giao thương, di chuyển phục vụ đời sống con người, chăn nuôi theo phương thức nhỏ lẻ không thể cung ứng thỏa mãn nhu cầu thực phẩm chính vì thế phải chăn nuôi theo hướng công nghiệp để nâng cao hiệu quả chăn nuôi cũng như đáp ứng được nhu cầu thị trường.
Ở nước ta đã từ phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ nông hộ dần chuyển sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp, sau hơn 30 năm bước đổi mới và phát triển nước ta hiện đang đứng thứ 11 trên thế giới về sản xuất thịt gia cầm. Trong quá trình hội nhập, nhờ tiếp cận những thành tựu khoa học công nghệ mới trên thế giới, ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta trong những năm vừa qua đã có tốc độ phát triển tương đối nhanh chóng, tổng đàn gà trong cả nước tính đến tháng 1 năm 2021 là 517. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã lên kế hoạch xây dựng chiến lược phát triển chăn nuôi gia cầm nước ta với tổng đàn tăng lên 600 triệu con năm 2030, tăng 2 5,6% năm, trong đó nuôi theo phương thức chăn thả và bán chăn thả có kiểm soát chiếm 63%. Hiện nay ngành chăn nuôi ở Việt Nam đang được đặc biệt chú trọng và phát triển từ việc lai tạo ra con giống mang lại năng suất cao hơn so với đời bố mẹ như các giống gà siêu thịt, các giống gà siêu trứng, từ đó ta có thể thấy ngành chăn nuôi việt nam đang có những bước phát triển đột phá.
Quá trình nuôi dưỡng và chăm vật nuôi không tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng các sản phẩm gia cầm. Cùng với sự phát triển về công tác giống thì các bệnh ở gia cầm ngày càng nổ ra nhiều hơn và có diễn biến phức tạp, trong đó phải kể đến bệnh ở đường hô hấp của gia cầm. Bệnh gây thiệt hại rất lớn cho ngành cũng như người chăn nuôi gia cầm. Để tìm hiểu về bệnh đường hô hấp tại trang trại cũng như đề xuất biện pháp phòng bệnh em thực hiện đề tài: “Bệnh đường hô hấp trên gà Mix (♂Mía x ♀ Hubbard Plex) thương phẩm nuôi tại trang trại CP xã Tân Kim, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” từ đó có các khuyến cáo cho người chăn nuôi gà nâng cao hiệu qủa kinh tế trong chăn nuôi.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Nâng cao được trình độ chuyên môn, biết cách chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh về hô hấp ở gà. - Nắm bắt được tình hình phát triển chăn nuôi ở trang trại, phương pháp chăn nuôi đúng, cách phòng chống bệnh về đường hô hấp tại các cơ sở chăn nuôi. Yêu cầu của đề tài - Bước đầu làm quen với công việc của trang trại như chăm sóc nuôi dưỡng và chẩn đoán bệnh.
- Biết cách chẩn đoán phân biệt các bệnh về đường hô hấp hay gặp trên đàn gà thương phẩm. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập 2.1 Địa hình Thái Nguyên được biết đến là mảnh đất chủ yếu là đồi núi đan xen với các ruộng thấp, chủ yếu là núi đá vôi và đồi dạng bát úp.2 Dân cư Năm 2022, Thái Nguyên là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 25 về số dân, xếp thứ 14 về tổng sản phẩm trên địa bàn.
Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2021 đạt 6,56 %[15]. Dân cư Thái Nguyên phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại dày đặc. Quá trình người Kinh nhập cư đến Thái Nguyên tiếp tục tăng nhanh vào sau năm 1954, khi một số cơ sở công nghiệp lớn được hình thành và việc thực hiện chương trình "kinh tế mới". Ngay từ năm 1960, người Kinh đã chiếm 74,56% dân số tỉnh.3 Đất đai Khí hậu và đất đai của Thái Nguyên rất thuận lợi để phát triển nông nghiêp, lâm nghiệp, công nghiệp, du lịch và các loại hình dịch vụ khác.
Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên lên tới hơn 102.000 ha, diện tích rừng trồng khoảng 45. Diện tích lớn là một lợi thế to lớn cho việc phát triển rừng làm nguyên liệu phục vụ cho các sản phẩm nông nghiệp như sản xuất nguyên liệu làm giấy, chế biến gỗ. Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 1/5 diện tích tự nhiên, chủ yếu để sản xuất cây nông nghiệp chè. Trong 4 nông nghiệp ngoài sản xuất lương thực, tỉnh Thái Nguyên còn có diện tích tương đối lớn để chăn nuôi, quy hoạch các đồng cỏ.
Thái Nguyên là vùng đất thích hợp để phát triển ngành trồng trọt đặc biệt là cây chè. Chè Tân Cương là một trong những đặc sản từ lâu nổi tiếng cả trong và ngoài nước của tình Thái Nguyên. Diện tích chè Thái Nguyên chỉ đứng thứ 2 sau tỉnh Lâm Đồng (khoảng 15.000 ha), trong đó chè dùng để kinh doanh có trên 12.000 ha, sản lượng hàng năm ở mức cao khoảng trên 70. Về quy hoạch tỉnh đã có kế hoạch phát triển cây chè lên 15.000 ha với sản lượng khoảng hơn 100.000 tấn chè búp tươi mỗi năm.
Ngoài ra còn có cây ăn quả diện tích trên 10.000 ha năm 2010, có thể phát triển các loại cây như cam, quýt, vải, mơ, nhãn … 2.4 Khí hậu Khí hậu của Thái Nguyên mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, phân ra bốn mùa rõ rệt: xuân - hạ - thu - đông.5 Chế độ thủy văn sông hồ Chế độ thủy văn của tỉnh Thái Nguyên phụ thuộc lớn chủ yếu vào 2 con sông là sông Công và sông Cầu. Thái Nguyên không có nhiều hồ, và nổi bật trong đó là Hồ Núi Cốc, đây là hồ nhân tạo được hình thành do việc chặn dòng sông Công. Hồ có độ sâu 35 m và diện tích mặt hồ rộng 25 km², dung tích của hồ ước tính từ 160 triệu - 200 triệu m³. Hồ được tạo ra nhằm các mục đích cung cấp nước, thoát lũ cho sông Cầu và du lịch.
Hiện hồ đã có một vài khu du lịch đang được quy hoạch để trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia [14] 2.6 Tài nguyên khoáng sản Thái Nguyên là tỉnh có lượng than lớn thứ 2 cả nước bao gồm than mỡ và than đá nằm tập trung ở 2 huyện Đại từ và Phú Lương. Than mỡ là tài nguyên có nhiều tiềm năng, thống kê khoảng trên 15 triệu tấn, trong đó trữ 5 lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn, chất lượng tương đối tốt, tập trung chủ yếu ở các mỏ: Phấn Mễ, Làng Cẩm, Âm Hồn. - Than đá: 3 mỏ với tổng trữ lượng than đá ước tình khoảng 90 triệu tấn tập trung ở các mỏ Khánh Hoà, Bá Sơn và Núi Hồng. Khoáng sản kim loại có nhiều ở Thái Nguyên - Quặng sắt: Tổng cộng có 47 mỏ trong đó có 2 cụm mỏ điển hình là: Cụm mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng khoảng 20.000 tấn hàm lượng sắt của mỏ lên tới 58,8% - 61,8%.
Cụm mỏ sắt Tiến Bộ có tổng trữ lượng quặng khoảng 30.000 tấn; Quặng Titan: có nhiều ở Đại Từ và Phú Lương, đã có 1 mỏ đi vào khai thác (mỏ Cây Châm, Phú Lương), Tổng trữ lượng dự kiến khoảng 18 triệu tấn. - Thiếc: Tổng trữ lượng của 3 mỏ này khoảng gần 14. Có ở huyện Đại Từ. - Vonfram ở Núi Pháo, Đại Từ: trữ lượng: 110.000 tấn - Chì kẽm: quy mô nhỏ tập trung ở Cúc Đường huyện Võ Nhai, Lang Hít huyện Đồng Hỷ, Thần Sa.
- Vàng: 5 khu vực vàng tiềm năng ở tỉnh Thái Nguyên là khu vực dãy núi Bồ Cu huyện Võ Nhai, Thần Xa, khu vực Ngàn Me, Cây Thị huyện Đồng Hỷ, khu vực phía tây của huyện Phổ Yên điển hình là vàng sa khoáng. - Qua điều tra sơ bộ tỉnh Thái Nguyên còn có trữ lượng quặng nhỏ như đồng, thủy ngân. Khoáng sản phi kim loại: Có pyrít, barít, phốtphorít. Tổng trữ lượng khoảng 60.
- Ở 2 mỏ Cúc Đường và Khe Mo đất sét và xi măng là 2 loại khoáng sản chủ yếu, loại này chủ yếu để làm vật liệu xây dựng. Đó là những nguyên liệu dồi dào cho sự phát triển ngành sản xuất vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng và đá ốp lát là 2 sản phẩm chính của ngành. 6 Khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên nhìn chung rất phong phú về mặt chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa quan trọng trong cả nước. Quặng sắt là khoáng sản có nhiều tiềm năng giúp cho Thái Nguyên có một lợi thế lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp về khai khoáng, luyện kim.
để trở thành một trung tâm công nhiệp nặng lớn trong nước ta. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Huyện Phú Bình nằm ở phía nam tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện gần 243,37 km2.
Dân số là 156.804 người, mật độ dân số 595 người/km2(2019). Vị trí địa lí: Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ Phía Tây giáp thành phố Thái nguyên và thành phố Phổ Yên Phía Đông và phía Tây giáp Bắc Giang Huyện Phú Bình có 1 thị trấn và 19 xã, trong đó có 7 xã miền núi, với tổng có 20 đơn vị hành chính.2 Khí hậu và thủy văn Đặc trưng khi hâu của huyện Phú Bình là khí hậu của miền núi trung du Bắc Bộ. Khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng, bao gồm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng tư năm sau. Mùa hè có gió Đông Nam khí hậu nồm, ẩm ướt.
Mùa đông có gió mùa Đông Bắc thời tiết lạnh và khô.