Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 1. Thành phần hóa học và dinh dưỡng của một số loại thức ăn phổ biến tại chỗ 1. Ngô Ngô là loại thức ăn phổ biến nhất trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng.
Hiện nay có nhiều giống ngô được trồng ở nước ta, các giống ngô có hạt với màu sắc khác nhau như vàng, trắng, đỏ. Ngô vàng chứa nhiều caroten và các sắc tố khác, do đó nó làm cho lòng đỏ trứng vàng hơn cũng như làm cho sữa và mỡ sữa của gia súc có màu đặc trưng. Ngô chứa khoảng 720 đến 800 gam tinh bột/kg chất khô và hàm lượng xơ rất thấp, giá trị năng lượng trao đổi khoảng 3. Hàm lượng protein thô trong ngô biến động lớn từ 80 - 120 g/kg phụ thuộc vào giống.
Tỷ lệ chất béo trong hạt ngô tương đối cao (4 - 6 %) chủ yếu tập trung trong mầm ngô. Gia súc, gia cầm tiêu hóa tốt các chất dinh dưỡng trong hạt ngô (tỷ lệ tiêu hóa xấp xỉ 90 %), tuy vậy lượng protein trong ngô vẫn thấp hơn so với nhu cầu của gia súc. Trong protein của ngô thiếu tới 30 - 40 % lysin, 15 - 30 % tryptophan, 80 % leucin so với nhu cầu của lợn. Ngô tương đối nghèo các nguyên tố khoáng như canxi (0,03 %), kali (0,45 %), mangan (7,3mg/kg), đồng (5,4mg/kg) vì vậy cần phối chế hợp lí tỷ lệ ngô trong khẩu phần (Viện chăn nuôi Quốc gia, 2001 [36]).
Theo kết quả nghiên cứu của Viện chăn nuôi Quốc gia (2001)[36]), thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của ngô: (ngô tẻ vàng miền núi bắc bộ) là: Vật chất khô (DM) = 82,10 %, protein thô (CP) = 8,80 %, lipit thô (EE) = 3,90 %, xơ thô (CF) = 1,40 %, dẫn xuất không đạm (NFE) = 66,80 %, khoáng tổng số (Ash) = 1,20 %, can xi = 0,43 %, photpho = 0,28 %; năng lượng trao đổi trong 100 g thức ăn = 314,50 kcal ME. Thóc Thóc là nguồn lương thực chủ yếu của con người ở các nước nhiệt đới và cũng sử dụng một phần làm thức ăn cho gia súc, gia cầm. Lượng protein, chất béo, giá trị năng lượng trao đổi của thóc thấp hơn ngô, tỷ lệ xơ cao hơn. Tỷ lệ protein trung bình của thóc là 78 - 87g/kg, xơ từ 90 - 120g/kg.
Thóc tách trấu có giá trị dinh dưỡng cao hơn, gia súc tiêu hóa và hấp thụ tốt hơn. Trấu chiếm khoảng 20 % trọng lượng hạt thóc, trấu rất giàu silic (trên 210 g/kg chất khô), các mảnh trấu sắc nhọn dễ làm tổn thương thành ruột. Do đó khi dùng thóc làm thức ăn ta cần loại bỏ trấu. Gạo có hàm lượng xơ 40 - 80 g/kg, protein là 70 - 87 g/kg; hàm lượng lysin, acginin, tryptophan trong protein của gạo cao hơn ngô.
Khối lượng các nguyên tố đa lượng, vi lượng ở gạo lại rất thấp so với nhu cầu của gia súc, gia cầm (Viện chăn nuôi Quốc gia, 2001 [36]). Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc: Vật chất khô (DM) = 89,35 %, protein thô (CP) = 8,05 %, lipit thô (EE) = 2,1 %, xơ thô (CF) = 9,1 %, dẫn xuất không đạm (NFE) = 65,64 %, khoáng tổng số (Ash) = 4,46 %, can xi = 0,13 %, photpho = 0,34 %; năng lượng trao đổi trong 100 g thức ăn = 280,10 kcal ME (Viện chăn nuôi Quốc gia, 2001 [36]). Cám gạo Cám gạo là sản phẩm phụ công nghiệp xay xát. Cám được hình thành từ lớp vỏ nội nhũ, mầm phôi của hạt cũng như một phần từ tấm.
Do đó hàm lượng protein cám gạo cao: 110 - 180g/kg chất khô, chất béo trong cám gạo rất dễ bị ô xy hóa, vì vậy không nên dự trữ lâu (Viện chăn nuôi Quốc gia, 2001 [36]). Theo Từ Quang Hiển và cs (2013) [7]: Thành phần hóa học của cám gạo có: 12,9 % protein, 86 % vật chất khô, 13,6 % lipit, 8,6 % xơ, 41,4 % gluxit, 0,08 % can xi, 1,08 % photpho; hàm lượng axit amin thiết yếu trong cám gạo thấp: lysin 7,0 g, methionin 2,3g, tryptophan 1,2 g/kg thức ăn. 5 Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [4], nguồn vitamin B1 trong cám gạo rất phong phú, ngoài ra còn có vitamin B6 và biotin; 1 kg cám gạo có 22 mg vitamin B1, 13 mg vitamin B6, 0,43 mg biotin nhưng các vitamin khác lại ít hoặc không có. Đỗ tương Đỗ tương là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho người rất phổ biến ở nhiều nơi, tuy nhiên một phần vẫn được sử dụng trong chăn nuôi.
Đỗ tương rất giàu protein (370 - 380 g/kg), chất béo (160 - 180 g/kg) và năng lượng trao đổi (3. Theo Viện chăn nuôi Quốc gia (2001) [36]: Giá trị sinh học của protein đỗ tương gần với protein động vật. Đỗ tương giàu axit amin không thay thế nhất là lysin, tryptophan là những axit amin thường bị thiếu trong thức ăn có nguồn gốc thực vật. Đỗ tương có 87 % vật chất khô, 37,4 % protein, 18,0 % lipit, 5 % xơ, 22 % gluxit, 0,23 % can xi, 0,53 % photpho; hàm lượng axit amin thiết yếu: Lysin 2,1 %, methionin 4 %, tryptophan 3,6 %, các axit amin khá đầy đủ và cân đối (Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, 2002 [6]).
Trong ngành chế biến công nghiệp, đỗ tương dùng để ép dầu, những sản phẩm phụ là khô dầu đỗ tương được coi là nguồn thức ăn giàu protein có giá trị cao. Khi ép dầu, đỗ tương đã được xử lý nhiệt nên hầu hết các độc tố kể trên đã bị phân hủy hoặc mất hiệu lực do đó làm tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ protein của gia súc. Khô đỗ tương sản xuất theo phương pháp chiết ly thường có hàm lượng protein cao hơn và có hàm lượng chất béo thấp hơn so với khô đỗ tương sản xuất theo phương pháp ép cơ học. Khi sử dụng đỗ tương trong chăn nuôi cần chú ý: Trong đỗ tương có một số chất gây ức chế khả năng tiêu hóa, các chất gây dị ứng, gây bướu cổ, chống đông máu.
Nếu sử dụng đỗ tương làm thức ăn gia súc nhất thiết phải xử lý nhiệt để phân hủy và làm mất hiệu lực của các độc tố như chất kháng tripsin, hemoglutinin, saponin, ureaza, liposidaza… 6 1. Hỗn hợp thức ăn hoàn chỉnh Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh: là loại thức ăn đã đáp ứng đầy đủ và hợp lí nhu cầu dinh dưỡng của từng loại vật nuôi. Khi sử dụng không cần phải bổ sung thêm các loại thức ăn khác. - Thành phần dinh dưỡng của hỗn hợp thức ăn hoàn chỉnh cho gà.
Số TT Thành phần Giá trị dinh dưỡng 1 Đạm (min %) 20 2 Can xi (min-max %) 0,7 - 1,5 3 Xơ thô (max %) 5 4 Photpho (min %) 0,5 5 Độ ẩm (max %) 13 6 Nacl (min-max %) 0,2 - 0,5 7 Năng lượng trao đổi (min -kcal/kg) 2.850 8 Kháng sinh theo quy định hiện hành 9 Không có hooc môn (Theo nhà sản xuất: Công Ty liên doanh Việt-Pháp, www.vn) Ưu điểm: thức ăn hỗn hợp là loại thức ăn đã chế biến, phối hợp đầy đủ các loại dinh dưỡng, nhu cầu của từng chất như protein, gluxit, lipit, năng lượng, khoáng chất. cho từng giai đoạn, đối tượng vật nuôi, không cần bổ sung thêm một loại thức ăn nào khác; dễ sử dụng, vật nuôi sinh trưởng, phát triển nhanh; một số loại thức ăn hiện còn phối trộn thêm một số loại men vi sinh làm tăng khả năng tiêu hóa, giảm mùi hôi, góp phần bảo vệ môi trường. Nhược điểm: Giá thành sản phẩm cao, người chăn nuôi phải tính toán hết sức thận trọng nếu không hiệu quả chăn nuôi sẽ không cao. Các nhà sản xuất phân phối chủ yếu ở những nơi trung tâm, chăn nuôi phát triển; những nơi hẻo lánh, vùng sâu vùng xa khó tiếp cận, nếu có thì giá thành đội lên quá 7 cao vì quá trình vận chuyển.; một phần trong thức ăn hỗn hợp có dư lượng thuốc kháng sinh và một số chất hóa học nhất định, nên ảnh hưởng nhất định đến chất lượng sản phẩm vật nuôi; trong khi đó người tiêu dùng đang hướng mạnh đến các sản phẩm sạch có nguồn gốc tự nhiên.
Khả năng sinh trưởng 1. Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi, đặc biệt là trong chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng thit, nó quyết định đến năng suất, sản lượng của vật nuôi. Chambers (1990) [41] định nghĩa: Sinh trưởng là sự tổng hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt, da, xương. Tuy nhiên có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là tăng các tế bào của mô cơ, tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể.
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, vì thế người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) [22], sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở di truyền của đời trước. Sự sinh trưởng chính là quá trình tích lũy dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ tích lũy của các chất cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Mà sự hoạt động của các gen điều khiển này chịu ảnh hưởng của hệ thống tuyến nội tiết.
Đặc biệt là hormon STH (Somato Tropin Hormon) của thùy trước tuyến yên, có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình sinh trưởng của sinh vật. Theo Johanson (1972) [11], sự sinh trưởng của con vật được tính từ khi trứng thụ tinh cho đến khi đã trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành. 8 Cũng theo Johanson (1972) [11] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật.
Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô cơ diễn ra theo trình tự như sau: Hệ thống tiêu hoá, nội tiết → hệ thống xương → Hệ thống cơ bắp Mỡ. Thực tế nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sự sinh trưởng thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát triển của xương, mô cơ, một phần rất ít dùng lưu giữ cho cấu tạo của mỡ.