Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. 16 Trong chương này, luận án giới thiệu chung về bối cảnh kinh tế giữa Trung Quốc và Đông Nam Á, từ đó rút ra khoảng trống nghiên cứu về BĐCSKT của Trung Quốc và đầu tư, nắm giữ tiền mặt trong công ty thuộc Đông Nam Á. Ngoài ra, trong chương này luận án còn giới thiệu về mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, KQNC, tính mới và đóng góp của luận án − Chương 2: Lý thuyết về bất định chính sách kinh tế, đầu tư và nắm giữ tiền của công ty Trong chương này luận án trình bày khái niệm và ảnh hưởng của BĐCSKT, khung lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về đầu tư và ảnh hưởng của BĐCSKT đến đầu tư công ty, khung lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về nắm giữ tiền mặt trong công ty và ảnh hưởng của BĐCSKT đến nắm giữ tiền mặt. − Chương 3: Giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Trong chương này, luận án xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và trình bày về đo lường các biến trong nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.
− Chương 4: BĐCSKT của Trung Quốc và quyết định đầu tư, nắm giữ tiền trong công ty thuộc Đông Nam Á. Chương này, luận án trình bày và thảo luận về các kết quả của nghiên cứu − Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu Chương này trình bày về các KQNC cơ bản mà luận án đã đạt được và một số khuyến nghị chính sách dựa trên những kết quả đó. Lý thuyết về bất định chính sách kinh tế, đầu tư và nắm giữ tiền mặt của công ty BĐCSKT là vấn đề được nhắc đến phổ biến trong các bài báo khoa học thời gian gần đây. Ngày càng có nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan đến BĐCSKT ở cấp độ một quốc gia hay một khu vực.
Trong đó, các chủ đề được nghiên cứu phổ biến là ảnh hưởng của BĐCSKT đến lợi nhuận TTCK, đầu tư và tiết kiệm, tài chính doanh nghiệp, rủi ro,… Nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy BĐCSKT có ảnh hưởng sâu sắc đến đầu tư và quyết định nắm giữ tiền mặt trong công ty. Nhằm hệ thống lại khung lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về tác động của BĐCSKT đến đầu tư và tiền mặt làm cơ sở cho việc nghiên cứu tác động của BĐCSKT đến từ Trung Quốc lên các công ty thuộc Đông Nam Á, chương này trình bày ba nội dung chính: (1) BĐCSKT và ảnh hưởng của BĐCSKT đối với nền kinh tế, (2) Khung lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm về đầu tư công ty và ảnh hưởng của BĐCSKT đến đầu tư công ty; (3) Khung lý thuyết, bằng chứng chứng thực nghiệm về nắm giữ tiền mặt trong công ty và ảnh hưởng của BĐCSKT đến nắm giữ tiền mặt trong công ty. Bất định chính sách kinh tế và ảnh hưởng đối với nền kinh tế 2. Khái niệm bất định chính sách kinh tế Kể từ khi John Kenneth Galbraith xuất bản cuốn sách “Thời đại của bất định” vào năm 1977, nhiều sự kiện quan trọng được giới truyền thông và học thuật đưa tin đã nêu lên bất định là một vấn đề quan trọng trong thế giới tài chính.
Vai trò của bất định đã được đề cập đến trong nhiều tài liệu và cho đến nay tồn tại một số khái niệm “bất định” khác nhau. Theo , và là hai trong những học giả đã đưa khái niệm về sự bất định trong các tác phẩm của mình. Cả hai ông đều sử dụng thuật ngữ bất định để chỉ các sự kiện mà không xác xuất nào có thể tính được. Knight (1921) coi rủi ro là một đại lượng có thể đo lường, trong khi bất định là không thể đo lường và không thể định lượng 18 được.
chỉ ra bất định là thuật ngữ áp dụng cho các tình huống không có cơ sở khoa học nào để hình thành bất kỳ xác xuất tính toán nào. cho rằng sự bất định về chính trị, các sự kiện cụ thể trong ngành hay thậm chí tin tức cụ thể của công ty (chẳng hạn như dự báo doanh số bán hàng hay tin đồn về sự ra đi của giám đốc điều hành) đều là những ví dụ về bất định. Do đó, có thể coi bất định là sự không thể đoán trước của chính sách. Cụ thể hơn, bất định chính sách kinh tế có thể được định nghĩa là những thay đổi bất ngờ ảnh hưởng đến nền kinh tế và những sự thay đổi như vậy trong chính sách tài chính, tiền tệ hay bất kỳ chính sách nào khác của chính phủ cũng đều ảnh hưởng đến doanh nghiệp.
Ảnh hưởng của BĐCSKT đến hoạt động của các công ty là vấn đề mới chỉ được nghiên cứu trong những năm gần đây. Davis (2014)2 đưa ra khái niệm, bất định chính sách kinh tế là loại bất định liên quan đến chính phủ (nằm ngoài các loại bất định nảy sinh từ thiên tai, chiến tranh) có ba thành phần: Thứ nhất là sự không chắc chắn ai sẽ là người đưa ra các quyết định chính sách có tác động tới kinh tế. Khi các cuộc bầu cử, các cuộc thay đổi đảng lãnh đạo hay các cuộc cách mạng chưa kết thúc thì chưa rõ ai sẽ là người lên nắm quyền. Thứ hai là sự không chắc chắn về những quyết định chính sách cuối cùng được đưa ra.
Quyết định chính sách có thể bị trì hoãn do mâu thuẫn giữa các đảng chính trị hoặc đang chờ đợi quyết định cuối cùng sau đàm phán. Thứ ba là sự không chắc chắn về cách thức mà các quyết định chính sách cụ thể sẽ tác động như thế nào đến nền kinh tế, chẳng hạn như: liệu rằng biện pháp trừng phạt thương mại của Hoa Kỳ đối với Nga có ảnh hưởng đến việc bán hàng của doanh nghiệp hay không? hay liệu nó có ảnh hưởng đến số lượng việc làm trong nền kinh tế hay không? Steven J. Davis (2014) cho rằng, khi có những tình huống chưa rõ ràng như vậy xảy ra tức là lúc mức độ BĐCSKT tăng cao.edu/magazine/fall-2014/the-price-of-policy-uncertainty 19 Theo , bất định chính sách là khái niệm liên quan đến rủi ro thay đổi chính sách và hệ thống các quy định của chính phủ trong tương lai. Hiện tượng này làm tăng mức độ rủi ro và khiến doanh nghiệp và cá nhân trì hoãn đầu tư và chi tiêu.
Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, sự bất định trong việc thay đổi chính sách của chính phủ đã lên đến đỉnh điểm khiến doanh nghiệp và cá nhân không thể chắc chắn về những chính sách liên quan đến chi tiêu, thuế, chính sách tiền tệ và chăm sóc sức khỏe trong tương lai. Baker & cộng sự (2016) cho rằng bất định chính sách đã làm chậm lại khả năng phục hồi kinh tế sau suy thoái do doanh nghiệp và hộ gia đình trì hoãn quyết định chi đầu tư và tiêu dùng. định nghĩa bất định chính sách kinh tế là khái niệm đề cập đến sự không chắc chắn về các hành động chính sách trong lĩnh vực kinh tế mà những người ra quyết định sẽ thực hiện và không chắc chắn về tác động của nó trong hiện tại và tương lai. Bất định chính sách kinh tế là một loại rủi ro, nó làm tăng rủi ro cho cả doanh nghiệp và cá nhân, khiến họ trì hoãn chi tiêu và đầu tư.
Tổng quát ảnh hưởng của bất định chính sách kinh tế Bất định chính sách kinh tế (BĐCSKT) là vấn đề được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu thời gian gần đây. Nhìn chung, BĐCSKT được xem là yếu tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng sâu rộng tới nền kinh tế ở cấp vĩ mô, thị trường, doanh nghiệp và ảnh hưởng lan tỏa giữa các quốc gia. Ở cấp độ vĩ mô, BĐCSKT làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, gây ảnh hưởng đến tiêu dùng của hộ gia đình và các quyết định đầu tư , tác động này mạnh mẽ hơn trong thời kỳ suy thoái. Cú sốc giảm cầu gây ra bởi sự thay đổi hành vi của hộ gia đình dẫn đến giảm sản lượng và tổng tài sản của toàn nền kinh tế.
BĐCSKT có tác động ngược chiều với chu kỳ kinh doanh, BĐCSKT thấp trong những giai đoạn kinh tế bùng nổ và đạt đỉnh vào thời kỳ suy thoái. Do đó, BĐCSKT gia tăng sẽ có tác động lâu dài đến đầu tư vốn, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, BĐCSKT không có tác động đáng kể đến tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (Balcilar & cộng sự, 2016). 20 Ở cấp độ thị trường, chỉ ra BĐCSKT gia tăng dẫn đến giảm hiệu quả hoạt động thị trường và gia tăng mức biến động lợi nhuận của doanh nghiệp.
ghi nhận lợi nhuận thị trường thấp hơn ở những giai đoạn bất định cao hơn. cho thấy BĐCSKT gây ra tác động ngược chiều đến hoạt động của TTCK, tuy nhiên, mức độ tác động của nó cũng còn phụ thuộc vào quốc gia, sức mạnh của nền kinh tế và quy mô TTCK. Bên cạnh đó, đưa ra bằng chứng rằng bất định làm giảm số lượng các thương vụ M&A, khiến thời gian đàm phán tăng thêm, đặc biệt là trong các ngành và lĩnh vực tương quan cao, nhạy cảm với bất định chính sách kinh tế trong tương lai Ở cấp độ doanh nghiệp, nhận thấy rằng trong thời kỳ BĐCSKT gia tăng, nhà quản lý chọn cách thận trọng hơn hoặc bị buộc phải thận trọng hơn bởi điều kiện biến động của thị trường tài chính. ghi nhận ảnh hưởng của BĐCSKT làm các khoản đầu tư công ty giảm.
Một số yếu tố có thể làm giảm mức độ tác động của bất định đến đầu tư như: nguồn tài chính nội bộ dồi dào, lợi nhuận cao hay doanh thu của khối doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng cao hơn của khối cơ quan công quyền (. Không những ảnh hưởng tới đầu tư, BĐCSKT còn khiến công ty trì hoãn huy động vốn thông qua huy động vay nợ và vốn cổ phần. BĐCSKT làm tăng chi phí vốn, khiến công ty sử dụng nợ nhiều hơn, giảm sản xuất, đầu tư, tác động này rõ ràng hơn trong thời gian dài (. Ngoài ra, các bài báo cũng chỉ ra ảnh hưởng của bất định đối với đầu tư phụ thuộc vào quy mô công ty , ngành và quốc gia (Boutchkova & cộng sự, 2012).
Về ảnh hưởng của BĐCSKT đối với tiền mặt, có những kết quả thực nghiệm khác nhau về mối quan hệ này trong những mẫu khác nhau.