Tổng quan nghiên cứu

Thanh Hóa sở hữu kho tàng di sản văn hóa phong phú với 1.535 di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng và kiểm kê, bao gồm 01 Di sản Thế giới, 05 di tích Quốc gia đặc biệt và 11 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong bức tranh văn hóa đa sắc đó, Hò sông Mã nổi lên như một hình thức diễn xướng dân gian độc đáo, gắn liền với phương thức lao động đường thủy dọc theo 4 tuyến sông chính với chiều dài hàng chục vạn tầm. Tuy nhiên, trước tác động mạnh mẽ của công nghiệp hóa và hiện đại hóa giao thông, không gian diễn xướng nguyên bản của Hò sông Mã đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng, khi số lượng nghệ nhân am hiểu trọn vẹn các làn điệu ngày càng thưa vắng và thế hệ trẻ thiếu sự gắn kết kế thừa.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Thanh Hà, tập trung giải quyết vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hò sông Mã trong bối cảnh đương đại. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm việc hệ thống hóa toàn diện các giá trị lịch sử, khoa học và nghệ thuật của 14 làn điệu Hò sông Mã; khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước, truyền dạy và tư liệu hóa di sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2021; từ đó đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm chuyển hóa di sản thành sản phẩm du lịch đặc thù. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng, hỗ trợ địa phương thực hiện mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đến năm 2025, góp phần nâng cao tỷ trọng của khu vực dịch vụ - thương mại hiện đang chiếm gần 80% cơ cấu kinh tế toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước về di sản văn hóa, căn cứ theo Luật Di sản văn hóa năm 2013 (đặc biệt là Điều 54 và Điều 55 quy định về nội dung và thẩm quyền phân cấp quản lý), cùng các định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 03-NQ/TW và Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển du lịch bền vững theo Luật Du lịch năm 2017 nhằm giải quyết mối quan hệ tương hỗ giữa bảo tồn văn hóa và khai thác kinh tế: di sản đóng vai trò là tài nguyên đầu vào tạo nên sản phẩm du lịch khác biệt, trong khi doanh thu từ du lịch tạo nguồn lực tài chính tái đầu tư cho công tác bảo tồn, tôn tạo và hỗ trợ nghệ nhân. Hệ thống khái niệm then chốt được làm rõ gồm: di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn nguyên trạng, phát huy giá trị thích ứng và chuỗi giá trị sản phẩm du lịch di sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp liên ngành kết hợp giữa Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Xã hội học và Thống kê học. Cỡ mẫu khảo sát thực tế gồm 120 đối tượng, được phân bổ cụ thể: 25 nghệ nhân dân gian nắm giữ kỹ năng thực hành hò, 45 cán bộ quản lý văn hóa - du lịch tại các đơn vị cấp tỉnh/huyện/xã và 50 khách du lịch tham gia trải nghiệm tuyến đường thủy sông Mã. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện sâu sắc cho ba chủ thể chính: người thực hành di sản, nhà quản trị chính sách và đối tượng thụ hưởng dịch vụ.

Lý do lựa chọn cách tiếp cận liên ngành và phân tích dữ liệu đa chiều là để vừa định lượng hóa chính xác thực trạng nguồn nhân lực, kinh phí hoạt động của các câu lạc bộ, vừa phân tích định tính chiều sâu về không gian văn hóa và cấu trúc âm nhạc của 14 làn điệu cổ truyền. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo quy hoạch, hồ sơ kiểm kê di sản của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, kết hợp với các đợt điền dã dân tộc học, phỏng vấn sâu chuyên gia được thực hiện liên tục trong khung thời gian từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã nhận diện và phân loại chi tiết cấu trúc hoàn chỉnh của Hò sông Mã gồm 5 chặng diễn xướng chính (Hò rời bến, Hò đò ngược, Hò đò xuôi, Hò mắc cạn, Hò cập bến) tích hợp 14 làn điệu đặc sắc phân bố trên 4 tuyến thủy trình lớn (tuyến Nguồn, tuyến Vạn, tuyến Kim Tân, tuyến Lạch). Khác biệt với các loại hình dân ca khác, Hò sông Mã mang tính chất "hò để chèo", trong đó âm điệu và nhịp phách đóng vai trò như mệnh lệnh điều khiển trực tiếp các động tác chống sào, đạp lái của đội ngũ thuyền viên vượt qua các vùng thác ghềnh.

Thứ hai, thực trạng nguồn lực cho thấy sự hụt hẫng nghiêm trọng về thế hệ kế cận khi có tới hơn 70% nghệ nhân nắm giữ kỹ thuật xướng hò cổ đã bước qua độ tuổi 65. Sự chuyển đổi phương thức vận tải sang 22 tuyến giao thông thủy nội địa cơ giới hóa với chiều dài 697,5 km đã xóa bỏ hoàn toàn môi trường lao động đò dọc truyền thống. Điều này khiến khoảng 85% không gian diễn xướng nguyên bản bị thu hẹp, phần lớn hoạt động thực hành hiện nay chỉ tồn tại dưới dạng sân khấu hóa hoặc sinh hoạt câu lạc bộ quy mô nhỏ.

Thứ ba, công tác xã hội hóa và gắn kết di sản với du lịch còn ở mức rất khiêm tốn. Dù toàn tỉnh có 116 bến sông đang hoạt động cùng hệ thống di tích ven sông dày đặc, tỷ lệ các tour du lịch tích hợp biểu diễn Hò sông Mã phục vụ du khách chỉ đạt dưới 15% so với tiềm năng thực tế. Nguồn thu của các câu lạc bộ cơ sở gần như phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách địa phương hạn hẹp, thiếu hẳn sự tham gia của các doanh nghiệp lữ hành chuyên nghiệp.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm không gian diễn xướng Hò sông Mã bắt nguồn trực tiếp từ quá trình đô thị hóa nhanh chóng và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thanh Hóa, khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đã chiếm gần 80%. Thanh niên nông thôn có xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp sang các khu công nghiệp, dẫn đến việc người học hát dân ca cổ chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 8% trong độ tuổi dưới 30.

Trong phần phân tích thực trạng, dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu độ tuổi của lực lượng nghệ nhân tại 27 đơn vị hành chính và bảng tổng hợp so sánh mức độ biến đổi lời ca của 14 làn điệu qua các thời kỳ. Mô hình bảng số liệu này chỉ rõ rằng các điệu hò mang tính kỹ thuật cao như Hò sắng ngược hay Hò vượt thác có tỷ lệ mai một lên đến hơn 60% so với các điệu hò giao duyên như Hò nhịp đôi. So với các công trình nghiên cứu âm nhạc thuần túy trước đây của Viện Âm nhạc vào năm 1999 hay nghiên cứu của các học giả giai đoạn 2015-2018, luận văn đã làm rõ khoảng trống về mặt quản trị văn hóa: việc bảo vệ di sản không thể dừng lại ở việc ghi âm, lưu trữ văn bản mà phải tạo ra một "hệ sinh thái bảo tồn sống" thông qua chuỗi giá trị du lịch đường sông kết nối từ Bến Ngự - Hàm Rồng đến các vùng di sản phụ cận.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và cơ chế quản lý nhà nước: Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần ban hành Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản Hò sông Mã giai đoạn 2022 - 2025; thực hiện chính sách trợ cấp sinh hoạt hằng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế và hỗ trợ kinh phí hoạt động cho 100% nghệ nhân ưu tú và nghệ nhân dân gian tham gia truyền dạy.

Thứ hai, đổi mới công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực kế cận: Đưa nội dung dân ca Hò sông Mã vào chương trình giáo dục địa phương tại hơn 80% các trường phổ thông và cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh từ năm 2022; tổ chức định kỳ 10 lớp tập huấn, truyền dạy kỹ năng xướng hò chuyên sâu tại các huyện trọng điểm như Quan Hóa, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc, hướng tới mục tiêu đào tạo mới ít nhất 300 hạt nhân văn nghệ trẻ làm nòng cốt phong trào.

Thứ ba, xây dựng sản phẩm du lịch di sản đặc thù: Thiết kế và vận hành tour du lịch trải nghiệm "Ngược xuôi sông Mã nghe câu hò cổ", kết nối quần thể di tích Hàm Rồng, đền Độc Cước và Di sản thế giới Thành Nhà Hồ; đầu tư đóng mới 05 thuyền du lịch mô phỏng thuyền đò dọc truyền thống phục vụ trình diễn thực cảnh. Mục tiêu đến năm 2025 thu hút hơn 250.000 lượt khách du lịch tham gia trải nghiệm, trích tối thiểu 25% doanh thu dịch vụ để tái đầu tư cho quỹ bảo tồn di sản của các câu lạc bộ địa phương.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và tư liệu hóa di sản: Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với các cơ quan chuyên môn tiến hành số hóa 100% tư liệu âm thanh, hình ảnh, ký âm chuẩn hóa của 14 làn điệu và hơn 500 bài thơ hò cổ trong giai đoạn 2022 - 2023; xây dựng bảo tàng số 3D và tích hợp mã QR tra cứu thông tin di sản tại 116 bến sông, điểm dừng chân du lịch.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà quản lý văn hóa, cán bộ hoạch định chính sách tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa - Thông tin cấp huyện. Luận văn cung cấp khung lý luận, dữ liệu khảo sát thực tế và mô hình phân cấp quản lý rõ ràng, giúp xây dựng các đề án bảo tồn di sản phi vật thể phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp lữ hành, công ty tổ chức sự kiện và nhà đầu tư du lịch. Công trình cung cấp góc nhìn thực tiễn về tiềm năng khai thác tài nguyên văn hóa đường thủy dọc theo 4 tuyến sông, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa độc đáo và có sức cạnh tranh cao.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Du lịch học và Âm nhạc học. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị với phương pháp tiếp cận liên ngành, quy trình chọn mẫu khoa học và hệ thống dữ liệu điền dã phong phú về nghệ thuật diễn xướng dân gian xứ Thanh.

Nhóm thứ tư là các nghệ nhân dân gian, chủ nhiệm câu lạc bộ văn nghệ truyền thống và cộng đồng cư dân ven sông Mã. Tài liệu giúp người thực hành nắm vững quy trình biểu diễn 14 làn điệu cổ truyền, đồng thời định hướng phương thức tự quản và tiếp cận các nguồn lực xã hội hóa để duy trì sinh hoạt văn hóa bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Hò sông Mã có bao nhiêu làn điệu chính và cấu trúc diễn xướng được tổ chức như thế nào?
Hò sông Mã gồm 5 chặng diễn xướng chính bám sát chu trình chèo đò dọc với 14 làn điệu tiêu biểu như Hò rời bến, Hò đường trường, Hò vượt thác, Hò làn ai, Hò làn văn và Hò cập bến. Cấu trúc diễn xướng kết hợp linh hoạt giữa người xướng (người cầm lái) và tốp xô (4 trai đò), tạo nhịp điệu dậm chân thập thình mạnh mẽ hòa cùng tiếng mái chèo khua nước.

Điểm khác biệt nổi bật nhất giữa Hò sông Mã và các làn điệu hò sông nước khác ở Việt Nam là gì?
Điểm khác biệt cốt lõi là Hò sông Mã mang đặc trưng "hò để chèo", nơi âm nhạc là phương tiện lao động trực tiếp nhằm phát hiệu lệnh vượt ghềnh thác hiểm trở dọc hơn 100 km đường sông, khác với tính chất "chèo để hò" phục vụ giải trí thưởng ngoạn như ở một số vùng như Hò sông Hương xứ Huế.

Nguyên nhân chính nào dẫn đến nguy cơ mai một của Hò sông Mã trong giai đoạn hiện nay?
Nguyên nhân trực tiếp là sự biến mất của nghề chèo đò thủ công trước sự phát triển của 22 tuyến đường thủy cơ giới hóa hiện đại. Bên cạnh đó, hơn 70% nghệ nhân nắm giữ kỹ thuật cổ đã trên 65 tuổi, trong khi thế hệ trẻ dưới 30 tuổi chỉ chiếm khoảng 8% số lượng người tham gia học tập, thực hành.

Luận văn đề xuất mô hình nào để kết hợp bảo tồn Hò sông Mã với phát triển du lịch?
Nghiên cứu đề xuất mô hình du lịch thực cảnh đường thủy xuất phát từ Bến Ngự - Hàm Rồng kết nối Thành Nhà Hồ. Khách du lịch được trải nghiệm không gian đò dọc cổ truyền, nghe nghệ nhân hát đối đáp trực tiếp, hướng tới mục tiêu thu hút 250.000 lượt khách mỗi năm và tạo nguồn thu bền vững cho di sản.

Chính sách bảo vệ nghệ nhân Hò sông Mã được luận văn đề xuất cụ thể ra sao?
Luận văn khuyến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cơ chế đặc thù hỗ trợ trợ cấp sinh hoạt cố định, thẻ bảo hiểm y tế và cấp kinh phí mở lớp truyền dạy cho 100% nghệ nhân ưu tú được kiểm kê. Đây là giải pháp then chốt nhằm giữ gìn vốn tri thức dân gian và tạo động lực trao truyền 14 làn điệu cổ truyền.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện 14 làn điệu Hò sông Mã qua 5 chặng diễn xướng độc đáo, khẳng định giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc của di sản văn hóa phi vật thể xứ Thanh.
  • Công trình đã đánh giá khách quan thực trạng quản lý giai đoạn 2015 - 2021, chỉ ra các điểm nghẽn về nguy cơ mai một không gian diễn xướng và sự thiếu hụt thế hệ nghệ nhân kế cận.
  • Thiết lập khung lý thuyết liên ngành vững chắc, chứng minh tính khả thi của mô hình liên kết giữa bảo tồn di sản với phát triển du lịch đường thủy nội địa bền vững.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao về cơ chế chính sách, đổi mới giáo dục, đa dạng hóa sản phẩm du lịch và ứng dụng công nghệ chuyển đổi số.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp tỉnh Thanh Hóa hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống đến năm 2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuyển hóa một loại hình nghệ thuật dân gian đang có nguy cơ mai một thành một nguồn lực kinh tế - văn hóa tiềm năng. Kế hoạch triển khai số hóa tư liệu và thử nghiệm các tour du lịch thực cảnh trong giai đoạn 2022 - 2025 là bước đi cấp thiết. Các cấp chính quyền, doanh nghiệp lữ hành và toàn thể cộng đồng cần nhanh chóng chung tay hành động để tiếng Hò sông Mã tiếp tục vang vọng trên dòng chảy văn hóa đương đại.