MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, việc quan tâm bảo vệ các quyền của trẻ em luôn đƣợc coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lƣợc phát triển bền vững của đất nƣớc. Vì vậy, Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (20-11-1989) đã đƣợc Chính phủ của 191 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới phê chuẩn (tính đến hết tháng 12 năm 2004). Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cách thức xác định một con ngƣời cụ thể gọi là trẻ em và giới hạn về độ tuổi, nhƣng trong phạm vi quốc tế, trẻ em nói chung đều đƣợc xác định là đối tƣợng đƣợc chăm sóc đặc biệt, cần nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt của Nhà nƣớc, xã hội và cộng đồng. Ngày 2-1-1990, Chính phủ nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức phê chuẩn Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và là một trong những quốc gia phê chuẩn công ƣớc này sớm nhất (thứ 3 trên thế giới và thứ 2 ở Châu Á).
Để đảm bảo cho việc thực hiện công ƣớc này, ngày 16-8-1991, Nhà nƣớc đã ban hành Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tình hình xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng ở Việt Nam trong những năm vừa qua vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Ngày 31-7-1998, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 9-1998 _NQ/CP về việc tăng cƣờng và phòng chống tội phạm trong tình hình mới và phê duyệt Chƣơng trình Quốc gia về phòng chống tội phạm. Một trong những nội dung quan trọng của Chƣơng trình quốc gia về phòng chống tội phạm đƣợc đề cập là đề án “Phòng chống tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên” mà Bộ Công an đƣợc giao nhiệm vụ chính trong việc chủ trì, phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành.
Ngày 16-3- 2000, Bộ Công an đã có Kế hoạch số 323/ BCA để triển khai công tác thực hiện Nghị quyết số 09/1998_NQ/CP và Đề án 04 của Chƣơng trình quốc gia phòng chống tội phạm trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ củng cố các lực lƣợng nghiệp vụ trực tiếp phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên; phối hợp với các ngành nội chính điều tra, truy tố, xét xử kịp thời các đối tƣợng phạm tội loại này; đề xuất chủ trƣơng, biện pháp đấu tranh phù hợp trong công tác phòng, chống lại các loại tội phạm này. 6 Các vấn đề về bảo vệ trẻ em ngày càng đƣợc quan tâm tại Việt Nam. Theo báo cáo, có hơn 2,6 triệu trẻ em ở Việt Nam cần đƣợc bảo vệ đặc biệt. Trong số đó có trẻ em bị lạm dụng, bị bóc lột và buôn bán vì mục đích tình dục; trẻ em lang thang cơ nhỡ; trẻ em tật nguyền; trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ mồ côi; trẻ em bị ruồng bỏ; trẻ em bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS; và trẻ em sống trong cảnh nghèo đói.
Hoàn cảnh của các em đều hết sức nghiệt ngã. Chỉ có một số ít trẻ em Việt Nam đƣợc nuôi dƣỡng và chăm sóc ở các cơ sở của nhà nƣớc, còn rất nhiều em khác phải tự bƣơn trải để kiếm sống. Một số em bị bắt lao động, còn một số khác sống lang thang trên các đƣờng phố - chính tình cảnh đó khiến cho các em có nguy cơ cao bị nhiễm HIV, sử dụng ma túy và bị lôi cuốn vào các hành vi phạm tội và mại dâm. Có nhiều lý do phức tạp khiến các em lâm vào những tình cảnh éo le nhƣ vây.
Các yếu tố kinh tế nhƣ nghèo đói, chênh lệch về thu nhập và sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng cũng làm cho các em trở nên dễ bị tổn thƣơng hơn. Các trào lƣu xã hội nhƣ di cƣ, các giá trị gia đình đang bị băng hoại và tình trạng phân biệt đối xử về giới cũng ảnh hƣởng xấu tới trẻ em. Trẻ em đƣợc xếp vào nhóm ngƣời yếu thế trong xã hội, nhóm ngƣời này rất dễ trở thành nạn nhân của tội phạm.Chính vì vậy vấn đề bảo vệ trẻ em trƣớc những hành vi vi phạm pháp luật là một vấn đề cấp bách của toàn xã hội. Tình hình nghiên cứu 2.
Bảo vệ nạn nhân của tội phạm là trẻ em theo quy định của pháp luật quốc tế. Trong Luật Nhân quyền quốc tế, quyền trẻ em đƣợc chế định chủ yếu trong Công ƣớc về quyền trẻ em (CRC, năm 1989) và hai Nghị định thƣ không bắt buộc bổ sung CRC đƣợc thông qua năm 2000 (Nghị định thƣ về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, Nghị định thƣ về sự tham gia của trẻ em trong xung đột vũ trang). Trong đó khái niệm “Trẻ em” đƣợc xác định là những ngƣời dƣới 18 tuổi.Tuy nhiên, đây là một điều luật mở cho các quốc gia thành viên. Theo đó, các quốc gia thành viên có thể quy định các quyền trẻ em đƣợc bắt đầu ngay khi mang thai hay sau khi ra đời; và về độ tuổi đƣợc coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với quy định của CRC.
2 Một quy định về bảo vệ nạn nhân của tội phạm là trẻ em theo pháp luật của Việt Nam hiện hành Cùng với việc phát triển kinh tế, trong những năm qua, Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến bảo vệ các quyền trẻ em. Từ các bản Hiến pháp, các bộ luật, luật đến các văn bản dƣới luật đã tạo thành một hệ thống pháp luật bảo vệ trẻ em phù hợp với các công ƣớc quốc tế và truyền thống văn hoá của dân tộc. Việt Nam là nƣớc đầu tiên ở Châu Á và nƣớc thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ƣớc của Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990. Ở Việt Nam, quyền trẻ em đã đƣợc hiến định từ Hiến pháp năm 1946 (trực tiếp là các Điều 14, 15 và đƣợc hàm chứa trong một số điều khác) và trong tất cả các Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 (gồm cả lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2001), năm 2013.
Hiến pháp năm 1992, quyền trẻ em đƣợc chế định trực tiếp trong Điều 40 và đƣợc hàm chứa trong một số điều khác. Hiến pháp năm 2013, quyền trẻ em đƣợc quy định trực tiếp tại khoản 1, Điều 37: “Trẻ em đƣợc Nhà nƣớc, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; đƣợc tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngƣợc đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, việc bảo vệ trẻ em cũng đã đƣợc thể chế hóa trong nhiều bộ luật và luật, mà tập trung là Luật Trẻ em năm 2016, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật phòng chống bạo lực gia đình….
Hiện nay có các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo vệ nạn nhân của tội phạm là trẻ em nhƣ: Những điều cần biết về quyền trẻ em – Tác giả Vũ Ngọc Bình, sách do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1996; Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam - sách do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1996; Quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam - sách do Nhà xuất bản Tƣ pháp, xuất bản năm 2005; Bảo vệ quyền của ngƣời chƣa thành niên trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam – sách do Nhà xuất bản Tƣ pháp, xuất bản năm 2006; 8 Công ƣớc về quyền trẻ em năm 1989 – cơ sở cho việc bảo vệ quyền trẻ em - Tạp chí luật học số 3 tháng 5, 6 năm 2003; Quyền trẻ em trong pháp luật -bài viết của Thạc sĩ Lê Thị Nga đăng trên báo điện tử của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, số 5 ngày 21/07/2007; Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam - Luận văn Thạc sĩ luật học Chu Mạnh Hùng Luận văn thạc sĩ tác giả Nguyễn Thị Huyền về đề tài Pháp luật quốc tế, pháp luật nƣớc ngoài về bảo vệ quyền trẻ em. Luận án tiến sĩ tác giả Trần Hƣng Bình về đề tài Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời chƣa thành niên theo pháp luật tố tụng Việt Nam. Các biện pháp bảo vệ và trợ giúp nạn nhân là phụ nữ và trẻ em bị bạo lực của tác giả Nguyễn Xuân Thu đăng trong tạp chí Luật. Mục đích nghiên cứu Làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về vấn đề bảo vệ trẻ em trở thành nạn nhân của tội phạm và thực tiễn các biện pháp bảo vệ vấn đề đó tại Việt Nam.
Từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm bảo vệ trẻ em trƣớc sự xâm hại của tội phạm. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi của đề tài 4. Đối tƣợng nghiên cứu - Các quy định pháp luật về bảo vệ nạn nhân của tội phạm là trẻ em. - Đánh giá nhận xét về bảo vệ nạn nhân của tội phạm dƣới góc độ pháp lí.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật bảo vệ nạn nhân của tội phạm là trẻ em. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận ngiên cứu về bảo vệ nạn nhân của tội phạm là trẻ em dƣới góc độ pháp luật 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận là Chủ nghĩa Mác –Lênnin và Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Nhà nƣớc ta về nhà nƣớc và pháp luật. Phƣơng pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng các phƣơng pháp cơ bản - Phƣơng pháp duy vật biện chứng và phƣơn pháp duy vật lịch sử làm phƣơng pháp luận cho việc nghiên cứu.
- Phƣơng pháp logic – lịch sử làm phƣơng pháp chủ đạo. 9 - Phƣơng pháp tổng hợp: tổng hợp những kết quả đã phân tích và hình thành cái nhìn tổng quan về từ đó thấy đƣợc sự chuyển biến theo thời gian của việc bảo vệ nạn nhân của tội phạm là trẻ em. - Bên cạnh đó sử dụng các phƣơng pháp khác nhƣ: so sánh, tiếp cận hệ thống. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Luận văn đã cố gắng hệ thống về các quy định của pháp luật về vấn đề bảo vệ nạn nhân của tội phạm là trẻ em.
- Những kết quả mà luận văn mà nghiên cứu đƣợc, phần nào là tài liệu tham khảo giúp cho việc nghiên cứu Nhà nƣớc và pháp luật.