mở đầu cho thời kì quốc gia độc lập thống nhất. Giai đoạn này, vì mới thoát khỏi ách đô hộ nên nhà nước vẫn mang đậm màu sắc tù trưởng quân sự. Cũng bởi mới bước đầu xác lập, xây dựng chế độ phong kiến, nên các triều đại lúc này vào thế kỷ X còn nhiều điểm mang tính sơ khai, chưa được hoàn chỉnh. Tiếng là đã chế định triều nghi từ thời nhà Ngô với hai ban văn võ, nhưng trong lĩnh vực hình pháp thì luật pháp thành văn chưa xuất hiện, triều đình xét xử vẫn dùng luật tục trong dân gian là 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ yếu [2].
Những yếu tố này chi phối, làm ảnh hưởng lớn đến luật pháp. Sử thần Ngô Sĩ Liên cũng nói về việc tổ chức chính quyền của nhà Ngô như sau: “tiền Ngô nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi,việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương. Nhưng hưởng nước không được lâu, chưa thấy hiệu quả trị bình, đáng tiếc thay”[11,Tr54]. Đến thời kì nhà Đinh, do chịu ảnh hưởng nhiều năm từ thời loạn lạc, có nhiều người quen thói lúc loạn, không tuân theo kỉ cương, phép tắc của luật lệ.
Giai đoạn này nước có nền tự chủ chưa được bao lâu, loạn 12 sứ quân vừa được vãn hồi, ắt trong nhân gian vẫn còn nhiều nơi này, nơi khác có mầm mống phản loạn, chứng thực về sau có nhiều vụ như ngay con rể vua là Ngô Nhật Khánh làm phản, hay Chi hậu nội nhân Đỗ Thích ám sát vua… mới thấy cái mầm phản loạn còn nhiều tới mức nào. Trong khi đó, quan chuyên về võ phần nhiều, thi cử chọn người tài chưa có, việc chế định luật pháp bởi thế cũng chưa thể thực hiện [2]. Do đó vua dùng biện pháp hình phạt nghiêm ngặt để trừng trị. Đại Việt sử ký toàn thư ghi về việc này:Vua [Đinh Tiên Hoàng] muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn.
Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm” [11,Tr 59]. Đến thời kì nhà tiền Lê thì chính quyền trung ương thời Tiền Lê được giữ nguyên như thời Đinh. Như vậy thời kì này, pháp luật được ghi lại rất ít, chúng đã bị quân xâm lược nhà Minh cướp mất, đến nay không còn để lại gì nên việc nghiên cứu rất khó khăn. Pháp luật trong thời kì này được phản ánh mờ nhạt trong Đại Việt sử kí toàn thư.
Từ những tư liệu ít ỏi, chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét đối với pháp luật thời kì này như sau: Triều đình chủ yếu dùng uy lực để răn dạy và chế ngự nhân dân, nhằm củng cố quyền lực trung ương. Các biện pháp 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rất cụ thể như vua Đinh cho đặt vạc dầu sôi lớn ở sân, kẻ nào phạm tội thì bỏ vào đó, vua còn nuôi hổ cũng nhằm răn đe những kẻ phạm tội. Có thể nói, tính chất đàn áp khắc nghiệt cao độ của hình pháp trong thời kỳ này thể hiện rõ trong hình phạt dưới các triều Đinh và Tiền Lê. Các triều đại này coi tội phạm hóa các hành vi đe dọa quyền lực của triều đình là sự tiếp tục và hỗ trợ cho cuộc đấu tranh quân sự chống lại những tàn dư của nạn cát cứ diễn ra trước đó, nhằm ổn định, thống nhất đất nước.
Thời kỳ đầu của quá trình đem lại nền độc lập, tự chủ nước nhà nên việc ổn định, phát triển đất nước là công việc hết sức khó khăn nên việc tồn tại những hình phạt hà khắc là cần thiết để đảm bảo ổn định cho đất nước. Pháp luật là một công cụ để ổn định và phát triển xã hội nên tùy thuộc từng hoàn cảnh, điều kiện của mỗi thời kỳ mà nó tồn tại để nó phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của thời kỳ đó. Phần nhiều ý kiến hiện nay cho rằng luật pháp thời kì này chưa thành văn mà chỉ dừng lại ở những biện pháp trên.Phổ biến vẫn là những phong tục tập quán của nhân dân.Ngoài pháp luật của triều đình, luật tục vẫn giữ vai trò rất quan trọng và rộng khắp trong việc điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội.Những phong tục này vẫn được bảo tồn và phát triển trải qua quá trình lịch sử lâu dài. Nó ảnh hưởng sâu sắc và lớn lao đối với nhân dân.
Nó điều chỉnh các quan hệ về ruộng đất và hôn nhân gia đình.Lệ làng vẫn bảo lưu những truyền thống về dòng họ và gia đình từ xa xưa. Hành vi loạn luân đã bị cấm và lên án trong thời kì đó. Thời kì nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ( từ năm 1009 đến năm 1407). Thời Ngô, Đinh, tiền Lê nhà nước chưa có một hệ thống pháp luật.
Nhà Lý được xác định là nhà nước đầu tiên ở Việt Nam chính thức có hệ thống pháp luật từ khi giành độc lập sau thời Bắc thuộc mà thời nhà Ngô, nhà Đinh và nhà Tiền Lê trước đó chưa có. Sử chép “Năm 1042, Lý Thái 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tông sai trung thư san định luật lệnh, chấn chỉnh cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản và làm thành sách, ban hành sách Hình thư- sách làm xong xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện”[36 ,Tr269-270]. Đây là sách Luật đầu tiên của một triều đại Việt Nam, có thể coi như tổng hợp của luật dân sự, luật hình sự, luật tố tụng hình sự và luật hôn nhân gia đình ngày nay. Theo Lê Quý Đôn trong Nghệ văn chí của sách Đại Việt thông sử, Hình thư gồm có 3 quyển, đã bị thất truyền sau thời kỳ phá hủy văn hóa Đại Việt của nhà Minh vào đầu thế kỷ XV.
Ngay sau khi ban hành luật, nhà Lý cho ban hành thể lệ chuộc tội: “những người già trên 70 tuổi, trẻ con dưới 15 tuổi, người có nhược tật, những người họ nhà vua và người có công nếu phạm tội có thể chuộc tội bằng tiền, trừ khi người đó phạm phải những tội trong thập ác: Mưu phản: làm nguy xã tắc; Mưu đại nghịch: làm nguy tông miếu, cung khuyết; Mưu bạn nghịch: nổi loạn theo giặc; Ác nghịch: đánh giết ông bà cha mẹ; Bất đạo: giết người vô tội; Đại bất kính: dùng những đồ dành riêng cho vua, trộm và giả mạo ấn vua; Bất hiếu: mắng chửi hay không để tang ông bà cha mẹ; Bất mục: đánh giết những người thân thuộc gần; Bất nghĩa: dân giết quân, trò giết thầy, lính giết tướng, con giết cha; Nội loạn:Thông dâm với họ hàng thân thiết, thiếp của ông hay cha”.[10, Tr127] Như vậy, pháp luật thời kì này đã xác lập, củng cố, bảo vệ chế độ phụ quyền gia trưởng, đề cao quyền của cha mẹ, của người chồng, của các bậc bề trên trong gia đình. Tuy nhiên, mặc dù tội nội loạn được quy định trong thập tội ác.Nhưng đến chế độ hôn nhân thời kì nhà Trần là chế độ nội tộc.Điều này nhằm củng cố vương quyền, nhất là trong các thời kì đầu, nhà Trần đã thực hiện một nền chuyên chính dân chủ dòng họ.Để đề phòng ngoại thích, nhà Trần thực hiện chế độ hôn nhân đồng tộc. Nhiều nhà vua, vương hầu tôn thất đã lấy người 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong họ hàng khá gần gũi của mình như: “1) Trần Liễu, anh Thái Tôn, con Thượng hoàng Trần Thừa, lấy Thuận Thiên công chúa, con vua Lý Huệ Tôn và Thuận Trinh. Thuận Trinh là em ruột Trần Thừa, Trần Liễu và Thuận Thiên là con cô con cậu.Quả thật đời Trần người trong họ lấy lẫn nhau rất nhiều.
Sử chép : 2) Năm 1225, Trần Cảnh, tức Thái Tôn, lấy Chiêu Hoàng, em Thuận Thiên. 3) Sau khi Lý Huệ Tôn chết, giáng Huệ hậu làm Thiên Cực công chúa, gả cho Thủ Độ tức là chị em họ lấy nhau. Hai người vốn đã có tư tình với nhau từ trước. 4) Năm 1237, vì Chiêu Hoàng không có con, Thủ Độ ép Thái Tôn lấy Thuận Thiên, lúc ấy đã có mang ba tháng với Trần Liễu.
Trường hợp này vừa là con cô con cậu lấy nhau, vừa là em chồng lấy chị dâu. 5) Vua Thái Tôn hứa gả em gái là Trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành vương và đã cho Thiên Thành tới ở nhà Nhân Đạo vương, là cha đẻ ra Trung Thành vương, để chờ ngày cưới. 6) Năm 1251, Hưng Đạo vương muốn lấy Thiên Thành, đang đêm lẻn vào phòng Thiên Thành thông dâm. Thụy Bà Trưởng công chúa, chị Thái Tôn và Thiên Thành, mẹ nuôi Hưng Đạo vương, đang đêm gõ cửa cung nói dối là Hưng Đạo vương đã bị Nhân Đạo vương bắt giam, xin vua cứu giúp.
Sự thật, khi vua sai người tới thì Hưng Đạo vương còn trong phòng Thiên Thành và lúc ấy Nhân Đạo vương mới biết. Hôm sau Thụy Bà phải dâng mười mâm vàng sống xin cưới Thiên Thành cho Hưng Đạo. Vua bất đắc dĩ phải gả và bồi thường cho Trung Thàng vương. Như vậy Thiên Thành có họ với Trung Thành vương, lại là cô ruột Hưng Đạo, vì Hưng Đạo là con Trần Liễu, anh ruột Thiên Thành.
7) Năm 1258, Thánh Tôn lấy Thiên Cảm là con Trần Liễu, tức là con 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chú con bác lấy nhau… Tóm lại, nếu không phân biệt nội ngoại thì ít nhất cũng có gần 40 vụ người trong họ Trần lấy nhau còn ghi trong sử sách.”[23] Như vậy, hôn nhân nội tộc trong hoàng gia đời Trần thông thường chỉ diễn ra giữa những người cùng một thế hệ, bao gồm cả hôn nhân con bác lại với con chú lại (hay con chú lại với con bác lại), nghĩa là giữa những người cùng chung một bàng hệ. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp hôn nhân giữa những người thuộc hai thế hệ khác nhau như giữa cháu trai với cô, hoặc cháu gái với chú họ. Bộ Đại Việt sử kí toàn thư, một di sản vô cùng quý giá của văn hóa dân tộc một công trình tập đại thành nhiều bộ sử do nhiều nhà sử học của các đời biên soạn, đã nhận xét như sau về chế độ hôn nhân thời nhà Trần: - Họ Trần: “Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy. Song quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có nhiều điều hổ thẹn” [11, Tr5] - Phan Phú Tiên nói: “Tam cương ngũ thường là luân lí lớn của loài người.