Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA MỌI CÔNG DÂN TRƯỚC PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Những khái niệm có liên quan 1. Khái niệm bình đẳng và quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật Bình đẳng trước pháp luật là những nguyên lý của pháp luật được thể hiện qua các quy phạm pháp luật về quyền được đối xử một cách như nhau, công bằng giữa mọi công dân trước pháp luật, theo đó, mọi công dân thuộc các dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau trong một quốc gia đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật. Lý tưởng bình đẳng dựa trên nguyên lý căn bản là con người sinh ra đều như nhau, đều có chung dòng máu đỏ và nước mắt mặn và đều xứng đáng được hưởng quyền lợi như nhau.
Mọi ranh giới như: giai cấp, màu da, chủng tộc, giới tính, trình độ, địa vị … không thể quyết định và thay đổi bản chất bình đẳng giữa mọi người. Qua đó cho thấy “bình đẳng” là một nguyên lý căn bản được chấp nhận bởi mọi quốc gia, mọi dân tộc. “Bình đẳng” là một khái niệm chung của cả nhân loại, nó hướng đến việc khẳng định quyền lợi ngang nhau của mọi người, mọi đối tượng, mọi nhóm người trong xã hội. Bình đẳng là mục tiêu phấn đấu của mọi dân tộc, mọi xã hội tiến bộ và là lý tưởng chung của mọi cuộc cách mạng trên thế giới.
Bình đẳng có nghĩa là bình đẳng về cơ hội, nghĩa là mọi người đều được tạo một cơ hội như nhau để phấn đấu và vươn lên trong xã hội, nếu ai nỗ lực nhiều hơn, học giỏi hơn, làm việc hiệu quả hơn, tất nhiên sẽ thu được nhiều lợi ích hơn. Hơn nữa, bình đẳng cũng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bao gồm cả việc tạo điều kiện cho những nhóm người có khó khăn hơn như người nghèo, người già, trẻ em, người tàn tật, dân tộc thiểu số, người ở vùng sâu vùng xa… giảm bớt những khó khăn của họ. Bình đẳng, là nền tảng, cơ sở và là nguyên lý cơ bản của mọi thiết chế xã hội, mọi quy định, luật lệ. Xã hội càng tiến bộ thì tính bình đẳng giữa mọi công dân càng cao.
Trong một xã hội dân chủ pháp trị, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, kể cả tổng thống, nếu vi phạm pháp luật cũng phải ra tòa như một thường dân. Bình đẳng là mục tiêu ban đầu và lâu dài của mọi nỗ lực xây dựng xã hội, là thước đo trình độ văn minh và tiến bộ của một đất nước. Đinh Thế Hưng - Viện Nhà nước và Pháp luật, bình đẳng là cội nguồn của tự do còn pháp luật là sự giới hạn cần thiết cho cả tự do và bình đẳng. Bình đẳng được xét dưới hai góc độ là bình đẳng thực tế và bình đẳng pháp lý.
Mác đã nói: “Về bản chất, pháp luật chỉ có thể là sự vận dụng một đại lượng ngang bằng với những người khác nhau”. Đại lượng ngang bằng ở đây là pháp luật. Bởi lẽ, các giá trị về bình đẳng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống được xã hội thông qua nhà nước và thể chế hóa thành pháp luật. Trong cùng một điều kiện như nhau, công dân được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau, có tư cách pháp lý như nhau.
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lí là bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử lí bằng các chế tài theo quy định của pháp luật. Như vậy có thể hiểu, bình đẳng là sự ngang nhau về quyền và nghĩa vụ của mọi công dân trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi nói đến quyền bình đẳng của mọi công dân là nói đến sự ghi nhận quyền này trong pháp luật. Pháp luật trở thành thước đo mang tính chuẩn mực cho sự bình đẳng bởi đỉnh cao nhất của các hệ thống lập pháp quy gọn vào hai mục tiêu: Tự do và bình đẳng.
Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân loại tiến bộ qua các thời kì lịch sử khác nhau, là một quyền cơ bản của mọi công dân, cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản được thể chế 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa trong nhiều văn kiện quốc tế và quốc gia. Điều 6 và Điều 7 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 tuyên bố “Mọi người đều có quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi”. “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất cứ sự phân biệt nào”. Điều 26 Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên Hợp quốc (Việt Nam gia nhập Công ước này ngày 24/9/1982) cụ thể hóa hơn về cơ chế bảo vệ quyền bình đẳng trước pháp luật như sau: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
Về mặt này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác [10, Điều 26]. Dưới góc độ pháp lý, quyền con người trong đó có quyền bình đẳng trước pháp luật là một quan hệ pháp luật mà mỗi bên tham gia quan hệ đó đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý. Quan hệ về bình đẳng chỉ được xác lập trên cơ sở của tự do và tự nguyện. Khi giải thích về quyền bình đẳng trước pháp luật, Lênin cho rằng: “Khi những người theo chủ nghĩa xã hội nói về bình đẳng thì có nghĩa là sự bình đẳng mang tính xã hội, bình đẳng về địa vị xã hội chứ không phải sự bình đẳng về khả năng thể chất hoặc tinh thần”.
Từ đó có thể thấy, quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và nó phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Ở Việt Nam, câu đầu tiên trong Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”. Ý tưởng về sự bình đẳng này được trích dẫn từ tuyên ngôn độc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lập của Mỹ và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp. Thực tế, quyền bình đẳng trước pháp luật được ghi nhận nhất quán trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 – đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp lý Việt Nam.
Điều 6, 7 Hiến pháp năm 1946 – bản hiến pháp đầu tiên sau ngày độc lập với nhiều tư tưởng lập hiến tiến bộ của Hồ Chủ tịch có quy định: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”. “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình [13, Điều 6,7]. Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 tiếp tục khẳng định “Công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật” (Điều 51). Trước xu thế hội nhập quốc tế, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp, với những điểm mới quan trọng, nổi bật là đề cao quyền con người.
Cụ thể Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã quy định quyền con người tách khỏi quyền công dân và được quy định tại Chương II - Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Theo đó, nội dung của nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật được quy định tại Điều 16 “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. So với các quy định của các bản Hiến pháp trước đây thì quy định Hiến pháp sửa đổi năm 2013 về quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện đầy đủ, cụ thể hơn.
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 khẳng định bình đẳng trước pháp luật là quyền con người theo hướng mở rộng đối tượng có quyền bình đẳng trước pháp luật; khẳng định quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi người được công nhận trong tất cả lĩnh vực, bao gồm đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với mọi người trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com do “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác” (Điều 15 khoản 2). Công dân ở bất kỳ địa vị nào dù là cán bộ, công chức hay người lao động, dù là người có chức, có quyền hay là một người dân bình thường đều phải chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước pháp luật về mỗi hành vi, mỗi việc làm của mình. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.
Công dân có hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý bằng các chế tài theo quy định của pháp luật không phân biệt chức vụ, nghề nghiệp, tuổi tác và địa vị xã hội. Như vậy, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật là bình đẳng về quyền, nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật, bao hàm cả việc bình đẳng về trách nhiệm pháp lý của công dân mà không có sự phân biệt về giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, lứa tuổi, chức vụ, nghề nghiệp. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật Nguyên tắc, theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là “những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở để làm việc, xem xét” [26]. Tuy nhiên nguyên tắc trong tố tụng còn có những cách hiểu khác nhau.
Có quan điểm cho rằng: Những nguyên tắc của luật tố tụng hình sự là kinh chỉ nam cho mọi hoạt động tố tụng và được quy định trực tiếp trong Bộ luật tố tụng hình sự. Chính vì vậy, nói đến nguyên tắc của luật tố tụng hình sự phải hiểu đó là những nguyên tắc của một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam.